TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh, ông Nguyễn Tất Thể
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/4/2025 về “Tranh chấp Hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐ-ST ngày 10/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1993. Địa chỉ: thôn L, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1991. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn L, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại CHLB Đ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Võ Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Xuân C tự do tìm hiểu, đi đến hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2016 thì anh C đi lao động tại Cộng hòa liên bang Đ đến nay chưa về Việt Nam. Sau khi anh C đi lao động ở nước ngoài một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi cọ nhau, không liên lạc với nhau. Năm 2019, chị T cũng đi lao động ở Nhật Bản hiện nay đang về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn. Hiện tại, chị Võ Thị T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm nên làm đơn đề nghị Tòa án tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 19/7/2015. Nguyện vọng của chị T là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Nguyễn Xuân C phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Võ Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án vì lý do công việc.
Đối với bị đơn Nguyễn Xuân C: Ngay từ khi thụ lý Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có nhận được bản trình bày ý kiến của ông Nguyễn Văn C1 và bà Lương Thị L (bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Xuân C). Theo đó, ông bà trình bày: Gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 89/TB-TLVA ngày 04/4/2025 về việc chị Võ Thị T có yêu cầu khởi ly hôn với Nguyễn Xuân C. Gia đình đã trao đổi thông tin với anh C thông qua mạng xã hội, C cho biết: chị Võ Thị T có trao đổi với anh về việc yêu cầu ly hôn, hiện nay do điều kiện cuộc sống vợ chồng xa cách, có nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được nên anh thống nhất với yêu cầu của chị T về các mối quan hệ tình cảm vợ chồng, con chung và tài sản chung.
Để có đầy đủ căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án đã gửi công văn đề nghị Ban đối ngoại Đ1 (VOV5) đăng thông tin cho anh Nguyễn Xuân C. Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng thông tin anh Nguyễn Xuân C trong các ngày 28,29,30/4/2025 nhưng anh C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- Về tình cảm: Chị Võ Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân C.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 19/7/2015 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Xuân C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu án phí giải quyết ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Xuân C tự do tìm hiểu, đi đến hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2016 thì anh C đi lao động tại Cộng hòa liên bang Đ đến nay chưa về Việt Nam. Sau khi anh C đi lao động ở nước ngoài một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi cọ nhau, không liên lạc với nhau. Hiện tại, chị Võ Thị T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm nên làm đơn đề nghị Tòa án tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Chị Võ Thị T hiện trú tại thôn T, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, vì lý do công việc nên chị có ý kiến vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 444/QLXNC-Đ1, ngày 18/4/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh H, xác nhận anh Nguyễn Xuân C, sinh ngày 02/02/1991. Địa chỉ: xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng hộ chiếu số C2684208 ngày 06/01/2017 xuất cảnh ngày 02/7/2017 tại sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh Nguyễn Xuân C đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đ không có địa chỉ cụ thể, thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Xuân C tự do tìm hiểu, đi đến hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị T, anh C là hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
Đối với bị đơn Nguyễn Xuân C: Ngay từ khi thụ lý Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có nhận được bản trình bày ý kiến của ông Nguyễn Văn C1 và bà Lương Thị L (bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Xuân C). Theo đó, ông bà trình bày: Gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 89/TB-TLVA ngày 04/4/2025 về việc chị Võ Thị T có yêu cầu khởi ly hôn với Nguyễn Xuân C. Gia đình đã trao đổi thông tin với anh C thông qua mạng xã hội, C cho biết: chị Võ Thị T có trao đổi với anh về việc yêu cầu ly hôn, hiện nay do điều kiện cuộc sống vợ chồng xa cách, có nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được nên anh thống nhất với yêu cầu của chị T về các mối quan hệ tình cảm vợ chồng, con chung và tài sản chung.
Để có đầy đủ căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án đã gửi công văn đề nghị Ban đối ngoại Đ1 (VOV5) đăng thông tin cho anh Nguyễn Xuân C. Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng thông tin anh Nguyễn Xuân C trong các ngày 28,29,30/4/2025 nhưng anh C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 19/7/2015. Nay ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Cháu Ngọc A cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Hiện nay anh C đang đi làm xa, không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, hơn nữa thông qua gia đình, anh cũng đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, hiện tại giao cháu Ngọc A cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Võ Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật TTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc A, sinh ngày 19/7/2015 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Xuân C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được phép cản trở.
- Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số [...] ngày 04/4/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh – qua Cổng dịch vụ công quốc gia).
- Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc chị Võ Thị T phải chịu 2.250.000đ tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Chị T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
Bản án số 113/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 113/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Võ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
