|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-3-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Hoàng Xanh
- Ông Nguyễn Hải Đăng
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 737/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:186/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Huyền T, sinh năm: 1990
Địa chỉ: Căn hộ G tầng A khối A chung cư T, số D T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Trần Công N, sinh năm: 1990
Địa chỉ: Căn hộ G tầng A khối A chung cư T, số D T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tại phiên tòa, bà Ngô Thị Huyền T có mặt, ông Trần Công N vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
❖ Tại Đơn khởi kiện ngày 12/9/2024, bản tự khai và tại các buổi phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Ngô Thị Huyền T trình bày:
+ Bà và ông N tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quãng Ngãi (Giấy chứng nhận kết hôn số 11, ngày 05/02/2016).
Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N không lo làm ăn, nợ nần chồng chất, nhiều người kiếm đòi nợ, đe dọa cuộc sống của mẹ con bà. Ông N còn thường xuyên nhậu nhẹt và về nhà kiếm chuyện với bà và đánh bà. Đến đầu tháng 8/2024 bà và ông N đã sống ly thân, không còn quan tâm nhau nữa. Nay bà xác nhận không còn tình cảm với ông N, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông N.
- Về quan hệ con chung: Bà và ông N có 02 con chung tên Trần Ngô Minh K sinh ngày 03/03/2016 và Trần Ngọc Minh K1 sinh ngày 27/09/2018. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Minh K1 sinh ngày 27/09/2018, đồng ý giao trẻ Trần Ngô Minh K sinh ngày 03/03/2016 cho ông N nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà xác nhận không có tài sản chung.
- Về nợ chung: : Bà xác nhận không có nợ chung.
❖ Bị đơn ông Trần Công N trình bày:
Ông xác nhận phần trình bày của bà T về quá trình kết hôn là đúng. Quá trình chung sống giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn nhưng ông vẫn còn thương vợ, thương con. Đối với yêu cầu ly hôn của bà T thì ông không đồng ý, ông mong muốn bà T cho cơ hội sửa sai, đoàn tụ gia đình cùng chăm lo cho con cái.
Về con chung: ông và bà T có 02 con chung tên Trần Ngô Minh K, sinh ngày 03/3/2016 và Trần Ngọc Minh K1, sinh ngày 27/9/2018. Nếu phải ly hôn, ông yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác nhận không có.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
- Nguyên đơn bà Ngô Thị Huyền T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn ông Trần Công N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định quan hệ tranh chấp; xác định tư cách pháp lý; thu thập chứng cứ; thời gian tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; Tòa án chưa thực hiện đúng thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông N không còn hạnh phúc, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T với ông N.
Về quan hệ con chung: giao con chung Trần Ngô Minh K, sinh ngày 03/3/2016 cho ông Trần Công N trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Trần Ngọc Minh K1, sinh ngày 27/9/2018 cho bà Ngô Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông N và bà T do hai bên không yêu cầu.
Về tài sản chung: Không yêu cầu, không xét.
Về nợ chung: Không có, không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 11, ngày 05/02/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, thì quan hệ giữa bà Ngô Thị Huyền T và ông Trần Công N là quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Căn cứ Đơn khởi kiện, đây là “Tranh chấp ly hôn”, là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Do bị đơn ông Trần Công N cư trú tại phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị đơn – ông Trần Công N đã được Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 171; Điều 177, Điều 179; Điều 196, Điều 208, Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Trần Công N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Công N.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào các chứng cứ, lời khai của các bên trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện thời gian vợ chồng bà T và ông N chung sống với nhau đã xảy ra mâu thuẫn về tính cách, lối sống đẫn đến việc thường xuyên cải vã, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Hiện nay cả hai đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không thể đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà T đã yêu cầu ly hôn với ông N. Ông Trần Công N không đồng ý ly hôn, mong muốn bà T cho ông một cơ hội để sửa sai nhưng ông N đã vắng mặt trong các buổi hòa giải, xét xử cho thấy ông N đã không tha thiết trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Thị Huyền T được ly hôn với ông Trần Công N.
[2.2] Về con chung:
Bà Ngô Thị Huyền T và ông Trần Công N xác nhận có 02 (hai) con chung là trẻ Trần Ngô Minh K, sinh ngày 03/3/2016 và Trần Ngọc Minh K1, sinh ngày 27/9/2018. Ông Trần Công N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, bà Ngô Thị Huyền T yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Minh K1, đồng ý giao trẻ Trần Ngô Minh K cho ông N nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy bà T và ông N đều yêu thương các con chung, có nguyện vọng được nuôi con, có điều kiện kinh tế như nhau. Hiện 02 con chung đều do bà T và ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy trẻ Trần Ngọc Minh K1 là bé gái thì việc giao cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ phù hợp với sinh hoạt và sự phát triển của trẻ. Còn đối với trẻ Trần Ngô Minh K là bé trai thì việc giao cho ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ phù hợp với sinh hoạt và sự phát triển của trẻ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao trẻ Trần Ngọc Minh K1, sinh ngày 27/9/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giao trẻ Trần Ngô Minh K, sinh ngày 03/3/2016 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Ngô Thị Huyền T và ông Trần Công N không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Trần Công N và bà Ngô Thị Huyền T.
[2.4] Về quyền và nghĩa vụ đối với con chung:
Bà Ngô Thị Huyền T và ông Trần Công N có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.5] Về tài sản chung: Bà T và ông N khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.6] Về nợ chung: Bà T và ông N khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Án phí ly hôn sơ thẩm do bà Ngô Thị Huyền T phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
- Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật Phí và Lệ phí năm 2016;
- Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Huyền T
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Huyền T được ly hôn với ông Trần Công N
Quan hệ hôn nhân của bà Ngô Thị Huyền T và ông Trần Công N, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 11, ngày 05/02/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Ngô Thị Huyền T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Minh K1, sinh ngày 27/9/2018. Ông Trần Công N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trần Ngô Minh K, sinh ngày 03/3/2016.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Trần Công N và bà Ngô Thị Huyền T do các bên không có yêu cầu.
- Về quyền và nghĩa vụ đối với con chung:
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Khi có lý do chính đáng, người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà T và ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
- Về nợ chung: Bà T và ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Ngô Thị Huyền T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0040258 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngô Thị Huyền T đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
|
Tô Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 113/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 113/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
