Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST

Ngày 15-4-2025

V/v tranh chấp xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Duyên Văn Hiền,

2. Bà Lê Trường An.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M. Sinh năm: 1993 (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Bùi Minh T. Sinh năm: 1993 (có mặt).
  • Cùng địa chỉ: Khóm G, TT. T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Bà M và ông T kết hôn với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại U, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được bà xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện nay ông bà đã không còn sống chung với nhau. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, bà M xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay bà M yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng chung sống với nhau có 04 người con, Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020. Bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Minh T thoả thuận giao cháu Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Giao cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Bà M và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn ông Bùi Minh T trình bày:

Về hôn nhân: Ông T thống nhất với lời trình bày của bà M về thời điểm kết hôn, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Nay ông T đồng ý ly hôn với bà M.

Về con chung: Vợ chồng chung sống với nhau có 04 người con, Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020. Bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Minh T thoả thuận giao cháu Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Giao cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Bà M và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Bùi Minh T có nơi cư trú tại khóm G, TT. T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà M khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông T nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại U vào năm 2014 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà đã không còn chung sống với nhau. Bà M xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà M được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: có 04 người con, Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020.

Bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Minh T thoả thuận giao cháu Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Giao cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Bà M và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà M, ông T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở, Bà M, ông T phải tôn trọng quyền của các con được sống cùng cha mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Hai cháu Bùi Hoàng N, Bùi Gia P từ trước đến nay đều chung sống cùng ông T, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu tốt, cháu N có nguyện vọng được sống chung với cha là ông T. Hai cháu Bùi Nhật D, Bùi Gia H từ trước đến nay đều chung sống cùng bà M, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu tốt, cháu D có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà M.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu nên giao hai cháu Bùi Hoàng N, Bùi Gia P cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với hai cháu. Giao hai cháu Bùi Nhật D, Bùi Gia H cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với hai cháu. Bà M và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà M, ông T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở, Bà M, ông T phải tôn trọng quyền của các con được sống cùng cha mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà M, ông T xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện ở vụ kiện khác sau khi ly hôn.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Ông T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Minh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Bùi Hoàng N, sinh ngày 20/3/2014, Bùi Gia P, sinh ngày 27/8/2017 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Giao cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 11/3/2012, Bùi Gia H, sinh ngày 26/11/2020 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Bà M và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà M, ông T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở, Bà M, ông T phải tôn trọng quyền của các con được sống cùng cha mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Bà M có nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0005201 ngày 13/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 113/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger