Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN huyện P, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu và ông Võ Nguyên Vũ.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Ngô Linh Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H; sinh năm: 1985; địa chỉ: A L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn H1; sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 17 tháng 4 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Hồ Thị H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Nguyễn H1 có đăng ký kết hôn tại phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28/10/2005. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại phường H (nay là phường Đ). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vả vì anh H1 không chịu khó làm ăn, không phụ giúp chị H nuôi dạy con cái dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng gay gắt không thể hòa giải được. Từ năm 2014 chị H và anh H1 đã bắt đầu sống ly thân, anh H1 bỏ lại mẹ con chị H để về quê (xã P, huyện P) sinh sống một mình. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn H1.

Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/4/2006 và Nguyễn Thị Hoài P sinh ngày 10/11/2012.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu P cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Nguyễn Nhật M hiện đã thành niên, đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản chính giấy chứng kết hôn; bản sao giấy khai sinh con chung; bản sao căn cước công dân; đơn xác nhận địa chỉ cư trú của bị đơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H1 về việc chị H xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh H1 không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H1 vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 14/5/2025, chính quyền địa phương cung cấp thông tin anh H1 đăng ký thường trú tại thôn V, xã P, huyện P, thành phố H. Về quan hệ hôn nhân với chị H về cơ bản như nguyên đơn trình bày. Ủy ban nhân dân xã P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và cử cán bộ phối hợp với gia đình tống đạt các văn bản nêu trên theo quy định của pháp luật. Do không tiến hành hòa giải được và nguyên đơn có đơn đề nghị không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 11/6/2025, bị đơn có mặt và trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Về quan hệ hôn nhân với chị H như nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên, anh H1 không đồng ý ly hôn, mong được hoa giải đoàn tụ vợ chồng, bởi lẽ mâu thuẩn giữa hai người chỉ xuất phát từ việc không thống nhất nơi cư trú, chị H không theo anh H1 về quê nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên anh H1 không đồng ý nên vợ chồng sống ly thân hơn 10 năm nay chứ không có mâu thuẩn gì lớn. Về việc nuôi con chung trong trường hợp ly hôn, anh H1 nhất trí giao cháu P cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không cấp dưỡng tiền nuôi con chung như ý kiến của chị H. Đối với con chung Nguyễn Nhật M hiện đã thành niên, đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H; về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Nguyễn H1 có đăng ký kết hôn tại phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28/10/2005. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và anh Nguyễn H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình hôn nhân giữa nguyên đơn và anh H1, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân thời gian rất dài, từ giữa năm 2014 cho đến nay nên không có nhiều điều kiện quan tâm, chăm sóc cho nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng không hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Điều đó cho thấy răng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị H.

[2.2] Về việc nuôi con chung: Nguyên đơn chị Hồ Thị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung là cháu Nguyễn Thị Hoài P sinh ngày 10/11/2012. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là chính đáng, phù hợp với thực tế vì hiện nay cháu P đang do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn. Đối với con chung Nguyễn Nhật M hiện đã thành niên, đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị H rõ. Tuy nhiên, hị H trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H, không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ vợ chồng của bị đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H được ly hôn anh Nguyễn H1.

2. Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao người con chung là Nguyễn Thị Hoài P sinh ngày 10/11/2012 cho chị Hồ Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với con chung Nguyễn Nhật M hiện đã thành niên, đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật nên không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002636 ngày 22/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Chị H đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 này kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Huế;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Đương Sự;
  • - UBND phường Đồng Hải;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 113/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger