Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

Số: 113/2025/DSST

Ngày 10/12/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tặng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 237/2025/TLST-DS, ngày 19 tháng 5 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2025/QĐXXST-DS ngày 30/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2025/QĐST-DS ngày 17/11/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).

Địa chỉ trụ sở chính: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Đức Thạch D là: Ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Q tách tài sản Ngân hàng S (Công ty S2).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Ngọc T là: Ông Nguyễn Minh T1, chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q tách tài sản Ngân hàng S (Công ty S2).

Địa chỉ liên hệ: Tầng A, số B - B N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh B, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Khu phố Khu T, đặc khu P, tỉnh An Giang.

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (S1) trình bày:

Ngày 20/8/2020, ông Huỳnh Thanh B có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản về Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông B, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ MC Contactles Cre Gold, số thẻ 526830-5885, hạn mức 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), ngày cấp thẻ 27/8/2020, lãi suất áp dụng là 2.766%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông B đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 21.141.400 đồng và các khoản phải thanh toán bao gồm (Phí trễ hạn 1.313.925 đồng, phí VHM 750.000 đồng, phí 1.418.000 đồng, lãi trong hạn 12.430.902 đồng). Tổng số tiền ông B phải thanh toán là 37.054.227 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay, ông B đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 22.856.644 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • - Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước
  • - Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • - Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • - Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ
  • - Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • - Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông B vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 18 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đồng thời khởi kiện đối với ông Huỳnh Thanh B để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Theo đơn khởi kiện ban đầu Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Huỳnh Thanh B phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/01/2024 là 18.635.093 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn không trăm chín mươi ba đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 14.197.583 đồng và lãi quá hạn: 4.437.510 đồng. Đồng thời, ông Huỳnh Thanh B có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 04/01/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Tính đến ngày 10/12/2025 ngày Tòa án xét xử vụ án thì ông Huỳnh Thanh B còn nợ Ngân hàng các khoản: Dư nợ gốc 14.197.583 đồng, lãi quá hạn 18.319.455 đồng, tổng cộng là 32.517.038 đồng (Ba mươi hai triệu, năm trăm mười bảy nghìn, không trăm ba mươi tám đồng).

Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông B phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 10/12/2025 là 32.517.038 đồng (Ba mươi hai triệu, năm trăm mười bảy nghìn, không trăm ba mươi tám đồng) và phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 11/12/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng đã giao kết với Ngân hàng.

* Đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh B: Đã được Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên ông B không gửi văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của T2, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn bị đơn ông Huỳnh Thanh B thì chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, còn bị đơn ông Huỳnh Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/8/2020 giữa Ngân hàng TMCP S và ông Huỳnh Thanh B thì thỏa thuận giữa Ngân hàng và ông Huỳnh Thanh B là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Do bị đơn ông Huỳnh Thanh B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, nên đề Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: buộc bị đơn là ông Huỳnh Thanh B có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S với số tiền còn nợ của thẻ tín dụng tính đến ngày 10/12/2025 là: 32.517.038 đồng (Ba mươi hai triệu, năm trăm mười bảy nghìn, không trăm ba mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc 14.197.583 đồng, lãi quá hạn 18.319.455 đồng và phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 11/12/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Bị đơn ông Huỳnh Thanh B có nơi cư trú tại địa bàn thuộc đặc khu P, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Q1 về thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh B nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, còn bị đơn ông Huỳnh Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung:

Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Huỳnh Thanh B được giao kết theo hình thức Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/8/2020, hợp đồng được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 và Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015, nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.

Theo hợp đồng tín dụng, ông Huỳnh Thanh B vay của Ngân hàng số tiền 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ MC Contactles Cre Gold, số thẻ 526830-5885, ngày cấp thẻ 27/8/2020, lãi suất áp dụng là 2.766%/tháng.

Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng hạn mức 15.000.000 đồng cho ông Huỳnh Thanh B sử dụng. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng số tiền vay của thẻ tín dụng, ông B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng theo như các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/8/2020, Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở ông B thực hiện việc thanh toán nợ cho Ngân hàng, nhưng ông B cố tình không thực hiện việc trả nợ.

Do đó, Ngân hàng TMCP S đã khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Thanh B phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng đối với thẻ tín dụng tính đến ngày 10/12/2025 là 32.517.038 đồng (Ba mươi hai triệu, năm trăm mười bảy nghìn, không trăm ba mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc 14.197.583 đồng, lãi quá hạn 18.319.455 đồng và phải trả tiếp tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/12/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng.

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Huỳnh Thanh B đã tự nguyện thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S theo hình thức Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/8/2020 và đồng ý với các điều khoản của Hợp đồng khi ký kết với Ngân hàng, nên ông B phải chịu sự ràng buộc bởi các thỏa thuận ghi trong hợp đồng và quy định của pháp luật về việc vay tiền theo hình thức hợp đồng tín dụng. Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền của thẻ tín dụng cho ông B sử dụng, ông B đã nhiều lần rút tiền và nộp tiền theo như tóm tắt sao kê Ngân hàng cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng thì ông B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như hai bên thỏa thuận và đến ngày 23/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với thẻ tín dụng của ông B. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông B phải trả nợ cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận, Hội đồng xét xử cần buộc ông Huỳnh Thanh B phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ của thẻ tín dụng tính đến ngày 10/12/2025 là 32.517.038 đồng (ba mươi hai triệu, năm trăm mười bảy nghìn, không trăm ba mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc 14.197.583 đồng, lãi quá hạn 18.319.455 đồng và phải trả tiếp tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/12/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 275, 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Bị đơn ông Huỳnh Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được tòa án chấp nhận, số tiền án phí được tính là: 32.517.038 đồng x 5% = 1.626.000 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn đồng)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng các Điều 117, 119, 275, 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Huỳnh Thanh B.

  • - Buộc ông Huỳnh Thanh B có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 10/12/2025 là 32.517.038 đồng (Ba mươi hai triệu, năm trăm mười bảy nghìn, không trăm ba mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc 14.197.583 đồng, lãi quá hạn 18.319.455 đồng.
  • - Ông Huỳnh Thanh B còn phải trả tiếp tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/8/2020, kể từ ngày 11/12/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

2. Về án phí sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 465.877 đồng (Bốn trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0044332, ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh).
  • - Bị đơn ông Huỳnh Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.626.000 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 2 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 2 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 2 – TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/DSST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 113/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S và ông Huỳnh Thanh B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger