Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/DS-ST

Ngày 19 - 6 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Trung

Ông Nguyễn Thanh Tùng

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 106/2025/TLST - DS ngày 20 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1987 (Có mặt)
  2. Chị Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1990 (Có mặt)

    Cùng địa chỉ: Ấp Đồng Tâm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

  3. Bị đơn: Ông Lâm Văn L, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
  4. Bà Phạm Trúc L1, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 3 năm 2025 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 trình bày:

Anh, chị và vợ chồng ông Lâm Văn L, bà Phạm Chúc L2 có mối quan hệ quen biết với nhau. Ngày 26 tháng 7 năm 2022, anh chị có cầm cố phần đất diện tích là 7.776m², tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau của vợ chồng ông L, bà L2 với giá là 80.000.000 đồng trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 26 tháng 7 năm 2022 đến ngày 26 tháng 7 năm 2024; anh chị đã thanh toán đủ số tiền trên cho vợ chồng ông L, bà L2. Sau đó, anh chị có cho vợ chồng ông L, bà L2 thuê lại phần đất trên với giá là 6.000.000 đồng/năm, bắt đầu kể từ ngày 26 tháng 7 năm 2022 và ông L, bà L2 đã trả đủ 02 năm tiền thuê lại đất. Đến nay, vợ chồng ông L, bà L2 không tiếp tục trả tiền thuê đất cũng như không giao lại đất cho anh chị canh tác và cũng không trả lại số tiền là 80.000.000 đồng để chuộc lại đất; anh chị đã nhiều lần liên lạc với vợ chồng ông L, bà L2 để giải quyết nhưng ông L, bà L2 vẫn cố tình trốn tránh. Nhận thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của anh chị bị xâm phạm nên anh chị làm đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L, bà L2 trả lại số tiền trên cho anh chị.

Phần đất anh chị nhận cầm cố của ông L và bà L2 thì hiện tại do ông L và bà L2 đang quản lý, canh tác nên không có yêu cầu gì đối với phần đất này. Anh chị không có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L và bà L2.

Nay anh chị yêu cầu tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh chị với ông L, bà L2 là vô hiệu. Buộc ông Lâm Văn L cùng vợ là bà Phạm Chúc L2 phải có trách nhiệm liên đới trả lại số tiền đã nhận của anh chị khi cầm cố đất là 80.000.000 đồng. Anh chị yêu cầu ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 trả thêm lãi suất cho anh chị là 10%/năm trên tổng số tiền đã nhận là 80.000.000 đồng, thời điểm tính lãi từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ.

Bị đơn là ông Lâm Văn L và bà Phạm Trúc L1 đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình. Đồng thời, Tòa án có xuống trực tiếp nhà của ông L và bà L1 để ghi nhận ý kiến nhưng ông L và bà L1 không có mặt tại nhà, do vậy không ghi nhận được ý kiến của ông L và bà L1.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 trình bày: Anh chị thay đổi yêu cầu khởi kiện, anh chị xác định chỉ yêu cầu tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh chị với ông L, bà L1 là vô hiệu. Buộc ông Lâm Văn L cùng vợ là bà Phạm Chúc L2 phải có trách nhiệm liên đới trả lại số tiền đã nhận của anh chị khi cầm cố đất là 80.000.000 đồng. Không yêu cầu ông L và bà L2 trả thêm lãi suất cho anh chị là 10%/năm trên tổng số tiền đã nhận là 80.000.000 đồng, thời điểm tính lãi từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Lâm Văn L và bà Nguyễn Ngọc D1 chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh D, chị D1 với ông L và bà L2. Tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh D và chị D1 với ông L và bà L2 là vô hiệu.

Buộc ông L và bà L2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh D và chị D1 số tiền là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).

+ Về án phí: Đương sự chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Tranh chấp giữa nguyên đơn anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 với bị đơn ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 là tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất. Đây là “Tranh chấp hợp đồng dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khi khởi kiện, ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 cư trú tại ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L và bà L2 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của anh D và chị D1 về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh D và chị D1 với ông L và bà L2 là vô hiệu. Buộc ông L và bà L2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh D và chị D1 số tiền là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).

Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Anh D, chị D1 và ông L, bà L2 có lập hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích là 7.776m², tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau cho anh D, chị D1 với giá là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng), thời hạn cố là 02 năm, kể từ ngày 26 tháng 7 năm 2022 đến ngày 26 tháng 7 năm 2024. Việc cầm cố quyền sử dụng đất thì hai bên có lập thành văn bản là “Hợp đồng cố đất”, có chữ ký của anh D, chị D1, ông L, bà L2 và có xác nhận chứng kiến của ông Ngô Văn Ú, ông Lâm Trung K, ông Nguyễn Văn B. Sau khi ký Hợp đồng cố đất thì anh D, chị D1 đã giao đủ tiền cho ông L, bà L2 số tiền là 80.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận anh D, chị D1 sẽ cho ông L, bà L2 thuê lại phần đất này mỗi năm là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), ông L và bà L2 đã trả đủ tiền thuê đất 02 năm (từ ngày 26 tháng 7 năm 2022 đến ngày 26 tháng 7 năm 2024). Phần đất ông L và bà L2 cố cho anh D và chị D1 thì hiện nay do ông L và bà L2 đang quản lý, canh tác. Hiện tại, Hợp đồng cố đất đã hết hạn nhưng ông L và bà L2 không thực hiện đúng theo thỏa thuận về việc chuộc lại đất hoặc trả tiền thuê đất cho anh D và chị D1 nên anh D và chị D1 khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh D và chị D1 với ông L và bà L2 là vô hiệu, buộc ông L và bà L2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh D và chị D1 số tiền là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng). Đối với ông L, bà L2, kể từ khi thụ lý vụ án ông L, bà L2 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ và thông báo về các phiên hòa giải, triệu tập đến để xét xử, nhưng ông L, bà L2 vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh D, chị D1. Điều này, cho thấy ông L, bà L2 không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phải tự chịu hậu quả pháp lý cho việc không đưa ra chứng cứ chứng minh và vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy giữa anh D và chị D1 với ông L và bà L2 có xảy ra giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất trên thực tế. Theo quy định tại các điều 26, 27 Luật Đất đai năm 2024 và quy định của pháp luật về đất đai thì người sử dụng đất không có quyền cầm cố quyền sử dụng đất, nên giao dịch giữa anh D và chị D1 với ông L và bà L2 là trái với quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào các điều 122, 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D và chị D1 đối với ông L và bà L2, tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh D và chị D1 với ông L và bà L2 là vô hiệu. Buộc ông L và bà L2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh D và chị D1 số tiền là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Buộc ông L và bà L2 phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông L và bà L2 phải chịu là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Anh D và chị D1 không phải chịu án phí. Anh D và chị D1 đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019301 ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, được nhận lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

[5] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 122, 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điều 26, 27 Luật Đất đai năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 đối với ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2.
  2. Tuyên bố Hợp đồng cố đất lập ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 với ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 là vô hiệu.

    Buộc ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 số tiền là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:
  4. Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Buộc ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C khi Bản án có hiệu lực.

    Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lâm Văn L và bà Phạm Chúc L2 phải chịu là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C khi Bản án có hiệu lực.

    Anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 không phải chịu án phí. Anh Huỳnh Văn D và chị Nguyễn Ngọc D1 đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019301 ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, được nhận lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C khi Bản án có hiệu lực.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Chí Thêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 113/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của anh D đối với ông L.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger