|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2025/DS-PT
Ngày: 11-02-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Hồng Giảng |
| Các Thẩm phán: | Bà Đỗ Thị Hòa |
| Bà Nguyễn Thị Minh Phượng |
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1098/DSPT ngày 12/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 557/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/QĐXXPT-DS ngày 13/01/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Hồng N, sinh năm: 1966 (Có mặt);
Địa chỉ: Số C ấp C, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1968;
Địa chỉ: 1 Đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Trần Thu H, sinh năm 1979 (Có mặt);
Địa chỉ: G N, Phường A, G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 13/10/2023).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Uông Thị Huỳnh M, sinh năm 1969 (Có mặt);
Địa chỉ: Số C ấp C, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: Bà Trần Thị Hương H1, sinh năm: 1969 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2022 và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Hồng N trình bày:
Ngày 09/01/2017 ông Trần Hồng N có cho ông Nguyễn Anh T mượn tổng số tiền là 300.000.000 đồng theo giấy mượn viết tay ngày 09/01/2017. Ông T hứa ngày 09/04/2017 sẽ trả nhưng đến nay vẫn chưa trả. Mặc dù không thỏa thuận lãi suất nhưng ông T tự nguyện trả lãi một tháng là 9.000.000 đồng, ông T đã trả lãi được 04 tháng với tổng số tiền là 36.000.000 đồng. Ông đến nhà đòi nhiều lần nhưng ông T cứ khất hết lần này đến lần khác. Nay ông đồng ý trừ số tiền lãi mà ông T đã trả vào số tiền gốc, cụ thể: 300.000.000 đồng – 36.000.000 đồng = 264.000.000 đồng. Ông yêu cầu ông T phải trả số tiền tiền là 264.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi cho đến ngày xét xử sơ thẩm; thời hạn trả là 01 tháng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc ông T có vay tiền của bà Trần Thị Hương H1 không liên quan đến ông và cũng không liên quan đến khoản vay này của ông. Ông xác định số tiền cho ông T mượn là tiền riêng của ông, ông chỉ cho ông T mượn nên chỉ yêu cầu ông T phải trả số tiền nợ nói trên.
Bị đơn ông Nguyễn Anh T có đại diện hợp pháp theo ủy quyền là bà Trần Thu H tình bày:
Khoản tiền 300.000.000 đồng mà ông T ký giấy vay tiền của ông N thực chất là của bà H1, do bà H1 đề nghị viết giấy mượn tiền với ông N để trả tiền lãi cho ông N. Bị đơn thừa nhận đã trả tiền lãi cho ông N được 04 tháng với tổng số tiền là 36.000.000 đồng như ông N đã trình bày. Khi cấn trừ nợ qua cho bà Nguyễn Thị M1, bà H1 và bà M1 đã ép ông T phải trả khoản tiền là 600.000.000 đồng nhưng ông T không đồng ý vì chỉ mượn tiền gốc của bà H1 là 300.000.000 đồng (theo giấy vay mượn ông T ký với ông N) và tiền gốc + lãi là 108.400.000 đồng (ông T nợ bà H1). Tuy nhiên sau khi bị bà H1, bà M1, ông N và 01 người đàn ông xăm trổ trấn áp tinh thần thì ông T đành phải đồng ý xác nhận số nợ là 500.000.000 đồng và chuyển số nợ sang cho bà M1. Bà M1 là người do bà H1 dẫn tới, trước đó, ông T không biết bà M1 là ai.
Ông T xác định đây là khoản nợ riêng của ông, không liên quan gì đến vợ ông, ông không sử dụng tiền vay để chi tiêu trong gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Huỳnh M trình bày:
Bà xin từ chối tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án không triệu tập đến Tòa án vì bàn không liên quan đến số tiền 300.000.000 đồng ông N cho ông T mượn. Số tiền này là tài sản riêng của ông N, ông N cho ông T mượn bà không hay biết gì nên bà không liên quan đến vụ án.
Người làm chứng bà Trần Thị Hương H1 trình bày:
Bà không biết cũng như không liên quan gì đến số tiền 300.000.000 đồng ông Trần Hồng N cho Nguyễn Anh T mượn. Bà có cho ông T vay tiền từ năm 2016 là 150.000.000 đồng, sau đó đến tháng 7/2018 bà đòi nhưng ông T không có tiền trả và nhờ bà đứng ra vay giùm. Bà đã đứng ra vay của Nguyễn Thị M1 150.000.000 đồng giùm ông T, ông T đồng ý trả lãi suất 10%/tháng tính từ tháng 7/2018. Đến tháng 6/2020 bà M1 đòi tiền, có đến nhà ông T, các bên thỏa thuận ông T đồng ý ghị giấy biên nhận nợ bà M1 500.000.000 đồng và bà xác nhận ông T không còn nợ bà nữa.
Bản án dân sự sơ thẩm số 557/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ vào Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, khoản 3 Điều 92; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 267; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hồng N:
Buộc bị đơn ông Nguyễn Anh T phải trả cho ông Trần Hồng N tổng số tiền còn nợ là 264.000.000 (Hai trăm sáu mươi bốn triệu) đồng.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Một ngày sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật 01 tháng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thì hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Anh T phải chịu 13.200.000 (Mười ba triệu hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự.
Trả lại cho ông Trần Hồng N 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0012391 ngày 27/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về thời hạn kháng cáo và thủ tục thi hành án.
Ngày 12/8/2024, ông Nguyễn Anh T là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 557/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp. Lý do kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà M1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm sáng tỏ số tiền nguyên đơn ký vay của ông N với số tiền của bà H1 bán nợ cho bà M1 có phải là một hay không; lời khai của bà H1 và ông N không đúng sự thật và không logic nhưng lại được Tòa sơ thẩm chấp nhận; Tòa sơ thẩm không thể hiện trong hồ sơ cũng như không xem xét đối với chứng cứ là xác minh của Ngân hàng về việc bị đơn đã thanh toán công nợ cho bà M1. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 557/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp và giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút kháng cáo, các đương sự không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, phân tích nhận định về nội dung vụ án và kháng cáo, đã nhận xét và đề nghị như sau:
- Về tố tụng: Giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung: Không có cơ sở chấp nhận kháng cáo; Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo. Thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm đã xác định đúng, đã đưa đủ và xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Căn cứ lời trình bày của các đương sự, căn cứ Giấy biên nhận nợ ngày 09/01/2017 được bị đơn thừa nhận tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, có cơ sở xác định bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 300.000.000 đồng. Nguyên đơn thừa nhận bị đơn có trả cho nguyên đơn số tiền lãi là 36.000.000 đồng.
Bị đơn cho rằng đã trả cho nguyên đơn số tiền lãi của 33 tháng, mỗi tháng là 9.000.000 đồng. Lời khai này của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận và bị đơn không có một tài liệu chứng cứ gì để chứng minh
[3] Bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Xét thấy: Bị đơn không có cơ sở chứng cứ để chứng minh về khoản tiền vay nguyên đơn theo biên nhận nợ do bị đơn ký ngày 09/01/2017, là khoản tiền vay của bà H1 “gán nợ” cho bà M1. Lời khai của bị đơn không có căn cứ chứng minh nên Tòa sơ thẩm không đưa bà M1 vào tham gia tố tụng trong vụ án này là đúng. Sự việc nguyên đơn trong quá trình cung cấp tài liệu chứng cứ, có cung cấp cả tờ giấy biên nhận về số nợ vay giữa ông T với bà H1 thì đây cũng không là căn cứ để chứng minh số tiền ông T vay nguyên đơn có liên quan đến giao dịch giữa bà H1, ông T với bà M1.
[4] Sơ thẩm đã giải quyết vụ án theo đúng quy định trình tự thủ tục tố tụng, không có vi phạm nghiêm trọng nào ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các đương sự, vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn về hủy bản án sơ thẩm, như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[5] Kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
(Phần quyết định của bản án tuyên buộc nội dung “Phương thức và thời hạn thanh toán: Một ngày sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật 01 tháng”, là không cần thiết. Bởi lẽ, nội dung này sẽ được giải quyết theo thủ tục thi hành án được quy định tại Luật Thi hành án dân sự. Giai đoạn thi hành án, các đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu, quyền tự thỏa thuận về cách thức và thời gian thi hành án. Phúc thẩm điều chỉnh lại mà không cần phải sửa bản án sơ thẩm).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 557/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp:
Căn cứ vào Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, khoản 3 Điều 92; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 267; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hồng N:
Buộc bị đơn ông Nguyễn Anh T phải trả cho ông Trần Hồng N tổng số tiền còn nợ là 264.000.000 (Hai trăm sáu mươi bốn triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thì hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Anh T phải chịu 13.200.000 (Mười ba triệu hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự.
Trả lại cho ông Trần Hồng N 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0012391 ngày 27/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Anh T phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Biên lai BLTU/23P 0014364 ngày 14/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Giảng |
Bản án số 113/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 113/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hồng N - Nguyễn Anh T Bản án số 113/2025/DS-PT về việc: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
