TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2025/DS-PT Ngày 03-4-2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Đỗ Văn H1, sinh năm 1973; địa chỉ ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Văn S, sinh năm 1961; địa chỉ số E, ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1966; địa chỉ số D, Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Ông Dương Văn N, sinh năm 1970; địa chỉ ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bà Bùi Thị Kim L, sinh năm 1977; địa chỉ số C, Lô G, đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Quách Hải H2, sinh năm 1975 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Huỳnh A, sinh năm 1974; cùng địa chỉ số A, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1950; địa chỉ số A, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Ông Lâm P, sinh năm 1980; địa chỉ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1954; địa chỉ số C, Lô G, đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Văn phòng C1; địa chỉ số C đường P, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Dương Văn H là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 10 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn ông Dương Văn H trình bày: Ông Dương Văn H là con ruột của ông Đỗ Văn S1 (chết năm 1996) và mẹ là bà Dương Thị X (tên gọi khác Dương Thị B1, chết năm 1997), khoảng năm 1959 ông S1 đang trốn lính không thể vào bệnh viện để khai sinh cho ông H và các anh chị em của ông. Do đó, mà trong giấy khai sinh của ông và các em của ông không có tên cha. Cha ông có tổng cộng 06 người con gồm ông Đỗ Văn R, sinh năm 1941 (chết năm 2019) là con riêng của ông Đỗ Văn S1 và người vợ trước (ông không biết tên). Khoảng năm 1950 người vợ trước của cha ông bỏ đi để ông R còn rất nhỏ cho cha mẹ ông nuôi dưỡng đến lớn. Ông Đỗ Văn R có vợ là bà Lê Thị A1, sinh năm 1950, có một người con là ông Đỗ Văn H1. Năm 1974 ông R và bà A1 ly hôn, sau đó bà A1 cùng ông H1 về quê bà A1 tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long sinh sống từ đó đến nay. Sau đó, ông Đỗ Văn R chung sống như vợ chồng với bà Trần Thị B đến lúc ông R chết. Hiện tại, bà Trần Thị B đang ở trên căn nhà số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Ông Đỗ Văn S1 và bà Dương Thị X có 05 người con chung gồm bà Dương Thị H3 (chết năm 2021), ông Dương Văn H, ông Dương Văn S, ông Dương Văn Đ và ông Dương Văn N. Lúc sinh thời, cha mẹ ông có tài sản là quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn anh chị em ông phải đi làm ăn xa nên có nhờ anh trai ông là ông Đỗ Văn R trông coi nhà cửa. Nguồn gốc thửa đất này là của ông Lê Văn K chuyển nhượng lại cho bà Võ Thị T (bà nội ông H). Sau khi bà Võ Thị Thủ C thì để lại cho ông Đỗ Văn S1 quản lý, sử dụng. Đến năm 2000 cha mẹ ông lần lượt qua đời không để lại di chúc định đoạt tài sản nêu trên nên ông Đỗ Văn R tiếp tục ở và quản lý, sử dụng. Năm 2019 ông R chết nên năm 2020 ông Đỗ Văn H1 con của ông Đỗ Văn R khai nhận thừa kế và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 23 tháng 4 năm 2020 ông Đỗ Văn H1 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho vợ chồng ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 và ông H1 chuyển nhượng cho ông H2, bà A thì anh chị em ông không biết. Xét thấy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 và ông H1 chuyển nhượng thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp anh chị em ông. Nay ông Dương Văn H yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² chia làm 6 phần, mỗi phần tương đương phần đất có diện tích 46,6m², nhận giá trị 50.000.000 đồng; Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1 với ông H2, bà A đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m²; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cấp cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A.
Bị đơn ông Đỗ Văn H1 trình bày: Thực hiện chủ trương của Ủy ban nhân dân thị xã T (UBND) về việc cấp quyền sử dụng ruộng đất chính thức năm 1996. Ông Đỗ Văn R (cha ông Đỗ Văn H1) sống ổn định trên thửa đất từ trước năm 1975 cho đến khi ông R chết vào năm 2019 đã được U, UBND thị xã T, Sở Địa chính Trà Vinh hỗ trợ thực hiện các thủ tục cấp quyền sử dụng đất do cha mẹ để lại trước năm 1991 cụ thể như sau: Ngày 01 tháng 8 năm 1996 UBND Phường 5, thị xã T gửi thơ mời về việc nộp thuế sử dụng đất thổ cư năm 1996, ngày 15 tháng 11 năm 1997 địa phương lập biên bản xác định ranh giới mốc thửa đất với các hộ giáp ranh, ngày 16 tháng 3 năm 1998 Sở Địa chính Trà Vinh lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, ngày 18 tháng 01 năm 1999 đăng ký lập hồ sơ nhà đất theo biên nhận số 716/BN-SĐC của Sở Đ1. Ngày 24 tháng 9 năm 2007 lập đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Văn R với nguồn gốc sử dụng là đất ông bà để lại và đã được UBND phường U xác nhận nguồn gốc sử dụng là đất ông bà để lại trước năm 1991 và tình trạng đất là ổn định, không có tranh chấp. Ngày 11 tháng 11 năm 2014 UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 907663, thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Đỗ Văn R. Ông Đỗ Văn R là người sống ổn định trên thửa đất nêu trên từ trước năm 1975 đến khi chết năm 2019, đã thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nghĩa vụ nộp thuế trên thửa đất đang ở và được UBND thành phố T công nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định pháp luật. Năm 2019 ông Đỗ Văn R chết, ông Đỗ Văn H1 thực hiện thủ tục xin nhận di sản thừa kế theo pháp luật. Ngày 10 tháng 3 năm 2020 U và Văn phòng C2 thông báo niêm yết công khai về việc khai nhận di sản thừa kế theo văn bản số 13/TB.CC ngày 10 tháng 3 năm 2020 và lập biên bản niêm yết có thông qua các thành phần liên quan gồm Văn phòng C2-Trà Vinh, Tư pháp và U, thành phố T. Ngày 26 tháng 3 năm 2020 Văn phòng C2 - Trà Vinh, Tư pháp và U, thành phố T lập biên bản kết thúc niêm yết hồ sơ kế thừa của ông Đỗ Văn R với nội dung là không nhận bất kỳ đơn khiếu nại, tranh chấp về việc thừa kế tài sản của ông R. Ngày 27 tháng 4 năm 2020 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 510175 thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho Đỗ Văn H1 với nguồn gốc sử dụng là nhận thừa kế. Sau khi ông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và phí liên quan theo quy định ngày 29 tháng 8 năm 2022 ông H1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² cho vợ chồng ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A đúng theo quy định pháp luật tại Văn phòng C1. Do đó, ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn S và là người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Kim L, ông Dương Văn N, ông Dương Văn Đ trình bày: Ông Dương Văn S thống nhất với lời trình bày của ông H. Ông S yêu cầu cho ông và những người ủy quyền cho ông mỗi được hưởng một suất thừa kế tương đương phần đất có diện tích 46,6m², nhận giá trị 50.000.000 đồng đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1 với ông H2, bà A đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² cấp cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn Q trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của ông Dương Văn H và ông Dương Văn S và không có yêu cầu hay ý kiến bổ sung thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Hải H2 trình bày: Ông Đỗ Văn H1 là người sở hữu hợp pháp quyền sử dụng đất thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1 cấp ngày 27 tháng 4 năm 2020. Do ông Đỗ Văn H1 có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên nên vợ chồng ông đã đồng ý cùng ông H1 thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 vào ngày 29 tháng 8 năm 2022, giá trị của hợp đồng 1.500.000.000. Ông H2 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và phí liên quan theo quy định và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14 tháng 9 năm 2022. Nay ông Dương Văn H yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1 với ông và bà A đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m²; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², cấp cho ông H2 và bà A thì ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Huỳnh A trình bày: Bà là vợ của ông Quách Hải H2, bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông H2 và không có yêu cầu hay ý kiến gì bổ sung thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B trình bày: Bà B được ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A cho ở nhờ vì hoàn cảnh bà khó khăn không có chỗ ở, trong vụ kiện bà không có yêu cầu hay ý kiến gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm P trình bày: Ông P là người được ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A cho mượn đất hiện tại đang tranh chấp để buôn bán nên ông có xây vách ngăn bằng lưới B40 có khung sắt để bảo vệ tài sản, trong vụ kiện này ông không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn H về việc chia thừa kế đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn H1 với ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m²; không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² cấp cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn ông Dương Văn H kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 03 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn ông Dương Văn H kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên được chấp nhận.
Về nội dung vụ kiện ông Dương Văn H trình bày nguồn gốc diện tích 233,6m², thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là của bà Võ Thị T (bà nội của ông H) chuyển nhượng của ông Lê Văn K, sau khi bà Võ Thị Thủ C để lại cho cha ông là ông Đỗ Văn S1, năm 1996 ông S1 chết để lại cho ông H nhưng ông không có căn cứ chứng minh. Quá trình kê khai ông Đỗ Văn S1 và bà Dương Thị X không có đăng ký, kê khai mà ông Đỗ Văn R là người kê khai, đăng ký qua các thời kỳ, ông R cũng là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất trên từ năm 1976 cho đến khi ông R chết năm 2019. Sau đó, ông Đỗ Văn H1 là con ông R tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên.
Xét về và quá trình đăng ký kê khai quyền sử dụng đất diện tích 233,6m², thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, loại đất ODT và CLN, đất tọa lạc số A đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo tư liệu đo đạc năm 1983 thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 15 trong tổng diện tích chung là 9.100m², loại đất T do cộng đồng sử dụng kê khai trong sổ mục kê ruộng đất, trong cộng đồng sử dụng thì có tên của ông Đỗ Văn R kê khai. Đến năm 1992 ông Đỗ Văn R kê khai thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 15, diện tích 253m², loại đất T và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo tư liệu đo đạc năm 2004 thửa đất số 33, tờ bản đồ số 8, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN do hộ ông Đỗ Văn R kê khai, đăng ký và ngày 11 tháng 11 năm 2014 hộ ông Đỗ Văn R đã được Ủy ban dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ 28, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN. Ngày 27 tháng 4 năm 2020 ông Đỗ Văn H1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m².
Lời khai ông Quách Minh H4 xác nhận là ông biết trước đó ông S1, bà B1 và anh em ông H có sống tại địa chỉ ấp L, thị xã P, tỉnh Vĩnh Bình nhưng từ năm 1976 ông S1, bà B1 và anh em ông H không còn sống tại địa chỉ nêu trên nữa mà người sống tại địa chỉ này là ông R. Đối với nguồn gốc đất đang tranh chấp là của ai ông không biết, việc trong giấy xác nhận nguồn gốc đất đang tranh là của ông S1, bà B1 là do ông H và anh em ông H ghi thêm. Bà Trần Thị B cũng khai nhận từ khi bà về sống chung với ông Đỗ Văn R từ năm 1976 cho đến nay thì chỉ có bà và ông R ở trên phần đất này.
Như vậy ông Đỗ Văn R đăng ký kê khai và quản lý, sử dụng ổn định và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước đối với thửa đất nêu trên. Ngày 11 tháng 11 năm 2014, hộ ông Đỗ Văn R đã được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau khi ông R chết, ông Đỗ Văn H1 nhận thừa kế đất này thì không ai tranh chấp hay có ý kiến gì. Năm 2022 ông Đỗ Văn H1 chuyển nhượng đất cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A. Ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn H1 với ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Do đó kháng cáo của nguyên đơn ông Dương Văn H không có căn cứ chấp nhận. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Văn H5, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Dương Văn H kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo: Nguyên đơn ông Dương Văn H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H chia thừa kế đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN, đất tọa lạc số A đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn H1 với ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² của ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A.
Xét về quá trình đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Xét thấy nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 233,6m², thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, loại đất ODT và CLN, theo tư liệu đo đạc năm 1983 thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 15 trong tổng diện tích chung là 9.100m², loại đất T do cộng đồng sử dụng (BL138) kê khai trong sổ mục kê ruộng đất, trong cộng đồng sử dụng thì có tên của ông Đỗ Văn R kê khai. Đến năm 1992 ông Đỗ Văn R kê khai thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 15, diện tích 253m², loại đất T và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo tư liệu đo đạc năm 2004 thửa đất số 33, tờ bản đồ số 8, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN do hộ ông Đỗ Văn R kê khai, đăng ký và ngày 11 tháng 11 năm 2014 hộ ông Đỗ Văn R đã được Ủy ban dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ 28, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN, đất tọa lạc Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Ngày 27 tháng 4 năm 2020 ông Đỗ Văn H1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 223,6m². Như vậy ông Đỗ Văn S1 không có đăng ký kê khai qua các thời kỳ đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN.
Xét về quá trình quản lý, sử dụng: Xét thấy phần đất tranh chấp trên là do ông Đỗ Văn R đăng ký kê khai và quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1979 đến khi ông Đỗ Văn R chết vào năm 2019 thì không có ai khiếu nại hay tranh chấp gì về phần đất này, lúc đó ông Đỗ Văn S1 và bà Dương Thị X còn sống nhưng vẫn không có tranh chấp. Sau khi ông Đỗ Văn R chết thì các hàng thừa kế của ông R lập thủ tục thừa kế và ông Đỗ Văn H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Nguyên đơn ông Dương Văn H trình bày nguồn gốc đất, diện tích 233,6m², thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 28, loại đất ở đô thị là của ông Lê Văn K chuyển nhượng cho bà Võ Thị T (bà nội của ông H) sau khi bà Võ Thị Thủ C mới giao lại cho ông Đỗ Văn S1 (cha của ông H) nhưng ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc chuyển nhượng và cho tặng diện tích nêu trên.
Xét thấy trong suốt quá trình đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và quản lý sử dụng thì ông Đỗ Văn S1 không có đăng ký kê khai và quản lý sử dụng, ông Dương Văn H cũng không chứng minh được nguồn gốc đất này là của ông Đỗ Văn S1 nên thửa đất số 33, tờ bản đầu số 28, diện tích 233,6m² không phải là di sản của Đỗ Văn S1 và bà Dương Thị X (bà Dương Thị B1) bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H về việc yêu cầu chia thừa kế thừa đất nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi ông Đỗ Văn R chết thì các hàng thừa kế của ông R lập thủ tục thừa kế tài sản và ông Đỗ Văn H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m², loại đất ODT và CLN, đất tọa lạc số A đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Đỗ Văn H1 được cơ quan có thẩm quyền (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1) xác nhận là đúng trình tự, thủ tục và đúng đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL353-356). Tại Điều 168 của Luật Đất đai năm 2013 có quy định “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận...” đối chiếu với quy định trên thì ông Đỗ Văn H1 có quyền sử dụng nhà, đất hợp pháp nên ông Đỗ Văn H1 thực hiện quyền chuyển nhượng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A vào ngày 29 tháng 8 năm 2022 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số DH420700 ngày 14 tháng 9 năm 2022 là đúng quy định của pháp luật (BL 353-356). Do đó án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn H về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn H1 với ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A vào ngày 29 tháng 8 năm 2022 và không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² của ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Dương Văn H, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Dương Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Văn H là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí đúng theo quy định của pháp luật nên ông Dương Văn H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 95, 99 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Dương Văn H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Dương Văn H với bị đơn ông Đỗ Văn H1.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H về việc yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² loại đất ODT và CLN, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn H1 với ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A đối với thửa đất thửa đất số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² loại đất ODT và CLN; không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 33, tờ bản đồ số 28, diện tích 233,6m² loại đất ODT và CLN, đất tọa lạc tại số A, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cấp cho ông Quách Hải H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh A.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Dương Văn H.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 113/2025/DS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 113/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/c thừa kế
