|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/KDTM-ST
Ngày: 05-9-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 104/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1008/2024/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1248/2024/QĐST-KDTM ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C;
Địa chỉ: A T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Bên được ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP C.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đình L – Chức vụ: Tổng Giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Võ Chí H, sinh năm: 1997;
Địa chỉ liên lạc: G N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền số 406/UQ-AMC, ngày 22/6/2023).
(Có mặt).
2. Bị đơn: Công ty TNHH T;
Địa chỉ: Nhà số D Lô B, đường số B, Công viên phần mềm Q, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Quốc V – Chức danh: Giám đốc.
Địa chỉ: F N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Từ Quốc V, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: F N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/6/2023, bản tự khai ngày 15/12/2023, ngày 08/7/2024, cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP C ông Nguyễn Võ Chí H trình bày:
1. Quá trình cấp tín dụng:
Ngày 20/01/2022 Ngân hàng TMCP C (V1) - Chi nhánh Đ1 và Công ty TNHH T ký Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL, theo đó Ngân hàng TMCP C (V1) - Chi nhánh Đ1 đồng ý cho Công ty TNHH T vay số tiền: 28.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh; Lãi suất cho vay theo từng Giấy nhận nợ kèm theo; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng thời gian chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, V1 đã giải ngân và Công ty TNHH T đã nhận nợ theo các Giấy nhận nợ sau:
- * Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004904310) ngày 24/01/2022:
- - Số tiền giải ngân: 12.022.910.790 đồng;
- - Ngày giải ngân: 24/01/2022;
- - Thời hạn trả nợ: 09 tháng, ngày trả nợ: 24/10/2022;
- - Ngày trả lãi đầu tiên là 25/02/2022;
- - Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay VNĐ = Lãi suất tiết kiệm VNĐ trả sau kỳ hạn 09 tháng + Biên độ 3.5%/năm, không thấp hơn lãi suất sàn. Theo chương trình: Đồng hành cùng KHDN VVN năm 2019. Lãi suất ưu đãi là 7.7%/năm, thời gian ưu đãi: 9 tháng.
- * Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004915757) ngày 28/01/2022:
- - Số tiền giải ngân: 10.000.000.000 đồng;
- - Ngày giải ngân: 28/01/2022;
- - Thời hạn trả nợ: 09 tháng, ngày trả nợ: 28/10/2022;
- - Ngày trả lãi đầu tiên là 25/02/2022;
- - Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay VNĐ = Lãi suất tiết kiệm VNĐ trả sau kỳ hạn 09 tháng + Biên độ 3.5%/năm, không thấp hơn lãi suất sàn. Theo chương trình: Đồng hành cùng KHDN VVN năm 2019. Lãi suất ưu đãi là 7.7%/năm, thời gian ưu đãi: 9 tháng.
2. Tài sản bảo đảm:
Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông Từ Quốc V đã thế chấp tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 696, tờ bản đồ số 48, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 226278, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS 01333 do Sở T1 cấp ngày 24/05/2018, cập nhật sang tên ông Từ Quốc V ngày 21/01/2022 (Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 039/2021/HĐBĐ/NHCT946-TLL ngày 21/01/2022, số công chứng 000448, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/01/2022 tại Văn Công chứng N, TP Hồ Chí Minh; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Sự vi phạm nghĩa vụ trả nợ:
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty TNHH T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho V1, mặc dù đã được V1 nhắc nhỏ nhiều lần Công ty TNHH T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.
Khoản vay của Công ty TNHH T phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng TMCP C kể từ ngày 27/9/2022.
Tính đến ngày 05/9/2024 Công ty TNHH T đã trả được số tiền là: 10.847.865.643 đồng, trong đó gốc là: 10.030.000.000 đồng, trả được số tiền lãi là: 817.865.643 đồng, dư nợ gốc còn lại là: 11.992.910.790 đồng.
Tính đến hết ngày 05/9/2024, Công ty TNHH T còn dư nợ tại V1 là 15.409.299.079 đồng, cụ thể:
- - Gốc: 11.992.910.790 đồng;
- - Nợ lãi trong hạn: 197.341.852 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 3.182.301.438 đồng;
- - Lãi phạt chậm trả lãi trong hạn: 36.744.999 đồng;
Ngân hàng TMCP C yêu cầu Công ty TNHH T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm tính đến hết ngày 05/9/2024 là: 15.409.299.079 đồng, bao gồm: gốc: 11.992.910.790 đồng, nợ lãi trong hạn: 197.341.852 đồng, nợ lãi quá hạn: 3.182.301.438 đồng, lãi phạt chậm trả lãi trong hạn: 36.744.999 đồng. Tiền lãi tiếp tục được tính từ ngày 06/9/2024 cho đến khi Công ty TNHH T trả hết nợ cho ngân hàng theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp Công ty TNHH T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ thì Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, xử lý các tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ: toàn bộ quyền sử dụng đất và và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 696, tờ bản đồ số 48, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 226278, số vào sổ cấp GCN: CS 01333 ngày 24/5/2018 và theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 039/2021/HĐBĐ/NHCT946-TLL ngày 21/01/2022.
Trường hợp sau khi xử lý phát mãi các tài sản bảo đảm nêu trên nhưng vẫn không thanh toán đủ nghĩa vụ gốc lãi thì Công ty TNHH T có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán gốc, lãi cho Ngân hàng TMCP C theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng cho vay/tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký.
Buộc Công ty TNHH T phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, phí thi hành án, chi phí phát sinh liên quan.
Ngoài ra, Ngân hàng TMCP C không còn yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T phải trả tiền nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn Công ty TNHH T có địa chỉ trụ sở chính tại địa chỉ: Nhà số D Lô B, đường số B, Công viên phần mềm Q, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Xét về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, nên căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về chứng cứ:
Tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
Tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Bị đơn Công ty TNHH T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Từ Quốc V được niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến tòa để trình bày, cung cấp chứng cứ. Do đó, việc Công ty TNHH T, ông V không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo thủ tục chung, mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình và giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C:
[4.1] Về hợp đồng tín dụng:
Xét Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022:
Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022 và Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004904310) ngày 24/01/2022, Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004915757) ngày 28/01/2022 thể hiện Công ty TNHH T được Ngân hàng TMCP C cho vay số tiền 22.022.910.790 đồng.
- * Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004904310) ngày 24/01/2022:
- - Số tiền giải ngân: 12.022.910.790 đồng;
- - Ngày giải ngân: 24/01/2022;
- - Thời hạn trả nợ: 09 tháng, ngày trả nợ: 24/10/2022;
- - Ngày trả lãi đầu tiên là 25/02/2022;
- * Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004915757) ngày 28/01/2022:
- - Số tiền giải ngân: 10.000.000.000 đồng;
- - Ngày giải ngân: 28/01/2022;
- - Thời hạn trả nợ: 09 tháng, ngày trả nợ: 28/10/2022;
- - Ngày trả lãi đầu tiên là 25/02/2022;
- Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh
Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP C với Công ty TNHH T được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được lập thành văn bản, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ theo quy định tại các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung đã thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH T không thực hiện việc thanh toán tiền gốc, lãi theo đúng thỏa thuận đã ký kết giữa các bên là vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022 về chấm dứt cho vay và thu hồi vốn vay trước hạn nên ngày 27/9/2022 toàn bộ nợ vay của hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển nợ quá hạn.
Theo Bảng tổng hợp dư nợ do ngân hàng cung cấp thì đến ngày 05/9/2024 Công ty TNHH T đã thực hiện thanh toán số tiền gốc là 10.030.000.000 đồng nên số tiền nợ gốc còn lại là: 11.992.910.790 đồng.
Về lãi suất trong hạn: theo Điều 2 của hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ thì Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay VNĐ = Lãi suất tiết kiệm VNĐ trả sau kỳ hạn 09 tháng + Biên độ 3.5%/năm, không thấp hơn lãi suất sàn. Theo chương trình: Đồng hành cùng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2019. Lãi suất ưu đãi là 7.7%/năm, thời gian ưu đãi: 9 tháng.
Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn: Điều 2 của hợp đồng tín dụng thì lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Lãi suất chậm trả lãi: theo Điều 2 của hợp đồng tín dụng thì mức lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; tại khoản 2 Điều 11, Quy chế ban hành kèm theo Quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 quy định: “Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận đối với khách hàng trong Hợp đồng tín dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định: “Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn” và căn cứ Điều 463, 465, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Như vậy, đối với lãi suất mà ngân hàng áp dụng đối với Hợp đồng tín dụng ký kết với Công ty TNHH T cũng như bản giải trình về tính lãi mà Ngân hàng xuất trình là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ngân hàng buộc Công ty TNHH T phải trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 05/9/2024 là: 15.409.299.079 đồng, bao gồm: gốc: 11.992.910.790 đồng, nợ lãi trong hạn: 197.341.852 đồng, nợ lãi quá hạn: 3.182.301.438 đồng, lãi phạt chậm trả lãi trong hạn: 36.744.999 đồng.
[3.2] Về hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Về Hợp đồng thế chấp bất động sản số 039/2021/HĐBĐ/NHCT946-TLL ngày 21/01/2022:
Để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022 Ngân hàng TMCP C và ông Từ Quốc V đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 039/2021/HĐBĐ/NHCT946-TLL ngày 21/01/2022. Bên được bảo đảm: Công ty TNHH T, đại diện theo pháp luật: Ông Từ Quốc V – Chức vụ: Giám đốc. Nghĩa vụ được bảo đảm: Là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn (bao gồm: gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác) của Bên Được Bảo Đảm đối với Bên Nhận Thế Chấp phát sinh từ tất cả các hợp đồng cho vay (hợp đồng tín dụng), hợp đồng cấp bảo lãnh, hợp đồng chiết khấu, hợp đồng bao thanh toán, văn bản liên quan tới việc phát hành L/c, hợp đồng mua bán trái phiếu, hợp đồng cấp tín dụng khác và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có) mà Bên Được Bảo Đ ký với Bên Nhận Thế Chấp trước, cùng và/hoặc sau thời điểm ký kết Hợp Đồng này (sau đây gọi chung là “Hợp Đồng Cấp Tín Dụng”). Thời Hạn Bảo Đảm: Việc thế chấp tài sản theo quy định của Hợp Đồng này có hiệu lực kể từ thời điểm Các Bên ký kết Hợp Đồng này hoặc một thời điểm khác nếu pháp luật có quy định cụ thể và chấm dứt khi đáp ứng đồng thời và đầy đủ tất cả các điều kiện sau: Toàn bộ Nghĩa Vụ Được Bảo Đảm đã được thực hiện xong và Các Bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm (trong trường hợp có đăng ký biện pháp bảo đảm) hoặc Các Bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả Các Giấy Tờ Tài Sản Thế Chấp cho nhau và ký kết Biên bản bàn giao để hoàn tất các thủ tục giải chấp, thanh lý Hợp Đồng này (trong trường hợp không đăng ký biện pháp bảo đảm).
Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 696, tờ bản đồ số 48, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 226278, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS 01333 do Sở T1 cấp ngày 24/05/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Từ Quốc V ngày 21/01/2022.
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng thế chấp bất động sản số 039/2021/HĐBĐ/NHCT946-TLL ngày 21/01/2022 giữa Ngân hàng TMCP C và ông Từ Quốc V đã được công chứng tại Văn Công chứng Nguyễn Thị Minh H1, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 000448, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/01/2022. Theo nội dung hợp đồng thế chấp ông V đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 696, tờ bản đồ số 48, diện tích 461 m², địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 226278, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS 01333 do Sở T1 cấp ngày 24/05/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Từ Quốc V ngày 21/01/2022. Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng viên Nguyễn Thị Minh H1 thuộc Văn Công chứng Nguyễn Thị Minh H1, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận việc ký kết Hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật. Ông Từ Quốc V và ngân hàng đã có phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số thứ tự 2683, ngày 21/01/2022 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 24/01/2022.
Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại Nghị định 102/2027/NĐ-CPngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm và Nghị định 21/2021/NĐ-CPngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên có đủ căn cứ để xác nhận hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lí và phát sinh hiệu lực. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/6/2024 thể hiện hiện trạng tài sản thế chấp là đất trống, không có cây trồng hay tài sản gắn liền với đất nào khác trên thửa đất và có hiện trạng như tại Hợp đồng thế chấp. Căn cứ Điều 299, 317, 319, 323 Bộ luật dân sự năm 2015, khi án có hiệu lực pháp luật Công ty TNHH T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm nếu không đủ trả nợ vay thì Công ty TNHH T vẫn phải tiếp tục trả hết khoản nợ vay cho nguyên đơn. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ vay cho Công ty TNHH T mà còn dư thì số tiền dư được trả lại cho ông Từ Quốc V.
Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Công ty TNHH T phải chịu nên Công ty TNHH T có nghĩa vụ phải hoàn trả lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng theo Biên bản giao nhận tạm ứng chi phí tố tụng ngày 10/6/2024 cho Ngân hàng TMCP C.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP C không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí là 60.614.767 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0030825 ngày 18/10/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn Công ty TNHH T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 123.409.299 đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, 35, 40, 144, 147, 157, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 299, 317, 318, 319, 323, 463, 465, 466, 468, 500, 501 và 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 91, 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C.
Buộc Công ty TNHH T phải thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP C số tiền còn nợ tính đến ngày 05/9/2024 theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022, Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004904310) ngày 24/01/2022 và Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004915757) ngày 28/01/2022 là: 15.409.299.079 (mười lăm tỷ bốn trăm lẻ chín triệu hai trăm chín mươi chín nghìn không trăm bảy mươi chín) đồng, trong đó: nợ gốc là: 11.992.910.790 (mười một tỷ chín trăm chín mươi hai triệu chín trăm mười nghìn bảy trăm chín mươi) đồng, nợ lãi trong hạn: 197.341.852 (một trăm chín mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi hai) đồng, nợ lãi quá hạn: 3.182.301.438 (ba tỷ một trăm tám mươi hai triệu ba trăm lẻ một nghìn bốn trăm ba mươi tám) đồng, lãi phạt chậm trả lãi trong hạn: 36.744.999 (ba mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm chín mươi chín) đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 06/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH T còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký kết. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà Công ty TNHH T không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 038/2022-HĐCVHM/NHCT946-TLL ngày 20/01/2022, Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004904310) ngày 24/01/2022 và Giấy nhận nợ số 01 (TK 806004915757) ngày 28/01/2022 cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 696, tờ bản đồ số 48, diện tích 461 m², địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 226278, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS 01333 do Sở T1 cấp ngày 24/05/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Từ Quốc V ngày 21/01/2022, theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 039/2021/HĐBĐ/NHCT946-TLL ngày 21/01/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP C và ông Từ Quốc V.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH T đối với Ngân hàng TMCP C. Nếu số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty TNHH T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP C. Nếu số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm sau khi thanh toán hết khoản nợ của Công ty TNHH T mà còn dư thì số tiền dư được trả lại cho ông Từ Quốc V.
Trường hợp Công ty TNHH T trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP C thì ngân hàng phải tiến hành giải chấp và trả lại cho ông Từ Quốc V bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 226278, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS 01333 do Sở T1 cấp ngày 24/05/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Từ Quốc V ngày 21/01/2022.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Công ty TNHH T phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo Biên nhận tạm ứng chi phí tố tụng ngày 10/6/2024.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 123.409.299 (một trăm hai mươi ba triệu bốn trăm lẻ chín nghìn hai trăm chín mươi chín) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí là 60.614.767 (sáu mươi triệu sáu trăm mười bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0030825 ngày 18/10/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ngân |
Bản án số 113/2024/KDTM-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 113/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
