|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HSST |
Ngày: 27/5/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Vinh.
Bà Trịnh Thị Yên.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Hằng T - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/HSST ngày 20/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HS ngày 15/5/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Trường L: sinh năm 1988; Số CCCD: [...] (do Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh T lập); Nơi cư trú: SN B khu phố P, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp khi phạm tội: Nhân viên công ty S1; Con ông: Nguyễn Văn N - sinh năm 1957, con bà Phạm Thị H - sinh năm 1962; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T; Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Thị Bích P - Thuộc Công ty L6 - Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
Địa chỉ: Số B N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị hại: Công ty cổ phần S1. Có mặt.
Địa chỉ: Tòa nhà S, số H Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn N1 - Trưởng phòng hành chính, nhân sự tập đoàn S1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H1 (Đại lý H), sinh năm 1981. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị V (Đại lý C), sinh năm 1967. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T1 (Đại lý Tuấn T2), sinh năm 1988. Vắng mặt.
- Ông Ngô Văn H2 (Đại lý H19), sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Thu H3 - sinh năm 1988 (Đại lý Đ5). Có mặt.
- Bà Lê Thị N2 (Đại lý T16), sinh năm 1984. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Đ (Đại lý T17), sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị N3 (Đại lý Ngọc V1), sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị T3 (Đại lý N), sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1 (Đại lý L), sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H4 (Đại lý T), sinh năm 1980. Vắng mặt.
- Ông Hà Sỹ N4 (Đại lý N), sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Ông Lục Đình T4 (Đại lý T18), sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn T5 (Đại lý H20), sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn C (Đại lý Cường H5), sinh năm 1990. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị H6 (Đại lý B), sinh năm 1986. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ1 (Đại lý Đoàn T6), sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Ông Hà Văn T7 (Đại lý T), sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Ông Ninh Văn B (Đại lý B1), sinh năm 1992. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Đức L2 (Đại lý H21), sinh năm 1960. Vắng mặt.
- Ông Trần Đức G (Đại lý Đ6), sinh năm 1986. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Công K (Đại lý Kiểu H7), sinh năm 1971. Vắng mặt.
- Ông Đỗ Ngọc T8 (Đại lý Anh T8), sinh năm 1993. Vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị N5 (Đại lý T), sinh năm 1984. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L3 (Đại lý Hoàng P1), sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Ông Đỗ Đức D (Đại lý Dũng H8), sinh năm 1973. Vắng mặt.
- Ông Hà Văn C1 (Đại lý Chung T9), sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S (Đại lý H), sinh năm 1986. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H9 (Đại lý Lịch H9), sinh năm 1986. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn Q (Đại lý Quân H10), sinh năm 1975. Vắng mặt.
- Ông Trần Đình T10 (Đại lý Thông T11), sinh năm 1984. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị L4 (Đại lý Phương L5), sinh năm 1975. Vắng mặt.
- Bà Bùi Thị M (Đại lý B), sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Phạm Đăng T12 (Đại lý Hương H13), sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Xóm A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Khu B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: SN B phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn B Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
- Chị Lưu Thị H11, sinh năm 1985. Có mặt.
- Chị Trương Thị H12, sinh năm 1990. Có mặt.
- Anh Đào Văn H13, sinh năm 1985. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Điều tra viên: Ông Trịnh Văn Đ2 - Phòng Cảnh sát Kinh tế PC03 - Công an tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/3/2020, Công ty Cổ phần S1 (công ty S1) ký hợp đồng lao động với Nguyễn Trường L làm nhân viên kinh doanh tại Chi nhánh Thanh Hóa 2, phân công L phụ trách thị trường các huyện T, N, C, Lang C2, Bá Thước với nhiệm vụ tiếp nhận thông tin đặt hàng từ đại lý, thông báo lại cho Chi nhánh để xuất bán hàng, theo dõi, đối chiếu công nợ hàng tháng và thu tiền của các đại lý nộp về Công ty.
Theo quy định của Công ty, nhân viên kinh doanh có trách nhiệm kết hợp cùng xe đi giao hàng và thu tiền khi nhân viên giao hàng bận, thu tiền phải sử dụng Giấy biên nhận và nộp về quỹ chi nhánh ngay trong ngày; chậm nhất ngày 05 hàng tháng phải thu hồi hết công nợ của khách nộp về quỹ chi nhánh; cuối tháng kế toán chi nhánh lập biên bản đối chiếu công nợ giữa chi nhánh với đại lý đưa cho nhân viên kinh doanh để ký biên bản chốt công nợ với đại lý và nộp về kế toán chi nhánh chậm nhất ngày 10 hàng tháng (bút lục 96).
Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, Nguyễn Trường L nhận đơn hàng của đại lý rồi thông báo đơn hàng trên nhóm zalo của Chi nhánh để chi nhánh xuất hàng cho đại lý, trong đó có 01 số đại lý L tự lên đơn hàng (tức là tự ghép thêm hàng vào tên đại lý, không phải hàng đại lý đặt mua) sau đó bán cho đại lý khác (không phải đại lý có tên trên đơn mua hàng), nên dẫn đến việc đối chiếu công nợ vào ngày cuối của tháng có sự chênh lệch số tiền đại lý đang nợ so với số tiền theo dõi trên hệ thống bán hàng của kế toán chi nhánh. Biên bản đối chiếu công nợ được kế toán giao cho L đem đến đại lý ký nhận, còn đại lý L tự ghép hàng thì L tự ký tên hoặc nhờ ký hộ. Đến cuối tháng 4/2023, do L thu hồi công nợ nộp về công ty thấp so với doanh số bán ra nên từ ngày 05/5/2023 đến 13/5/2023, công ty đã cử ông Phạm Quang H14 - Phó phòng kiểm soát nội bộ cùng với L và đại lý lập biên bản đối chiếu công nợ xác nhận ngoài số tiền hàng các đại lý còn nợ thực tế thì L đã thu tiền của các đại lý nhưng không nộp về công ty mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân số tiền 554.980.765đ. Ngày 13/5/2023, tại buổi làm việc với công ty, L thừa nhận đã thu tiền của 39 đại lý nhưng không nộp về công ty mà đã sử dụng cá nhân số tiền 554.980.765đ (bút lục số 16, 17, 18), trong đó bao gồm cả hàng khuyến mại, hàng tồn tại kho chi nhánh. Theo yêu cầu của công ty, ngày 25/5/2023 Nguyễn Trường L đã nộp về công ty số tiền 94.554.000đ. Ngày 26/5/2023, công ty S1 đã sa thải Nguyễn Trường L và yêu cầu L phải hoàn trả số tiền còn lại vào ngày 15/6/2023. Nhưng sau đó L không hoàn trả và vắng mặt khỏi nơi cư trú.
Do không thấy các đại lý thanh toán công nợ khi đến kỳ theo biên bản đã đối chiếu, nên từ ngày 20/6/2023 đến 22/6/2023 công ty S1 cử ông Nguyễn Văn Đ3 - Giám đốc ngành hàng tiến hành đối chiếu lại công nợ, có 14/39 đại lý khai báo được L nhờ nhận nợ hộ cho L với tổng số tiền 289.020.000đ (thực tế đại lý không nợ công ty mà L nợ) nên đã ký vào biên bản đối chiếu công nợ trước đó. Công ty đã làm đơn tố cáo Nguyễn Trường L chiếm đoạt của công ty tổng số tiền 844.000.765đ (gồm 554.980.765đ + 289.020.000đ). Ngày 02/6/2024, Cơ quan điều tra truy tìm được L đang cư trú tại tỉnh Bình Phước. Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Nguyễn Trường L thừa nhận trong thời gian từ tháng 4/2023 đến hết tháng 5/2023 L đã thu tiền của 39 đại lý mua hàng của công ty số tiền 844.000.765đ nhưng không nộp cho công ty mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Trong số 39 đại lý, L khai báo có 04 đại lý là Chỉnh H15, Thành H16, H, Dũng D1 do L giả mạo chữ ký chủ đại lý trong Hợp đồng đại lý để lập đại lý ảo (đại lý không có thật) với mục đích nhập một số sản phẩm của công ty bán cho các công trình và khách lẻ để hưởng hoa hồng. Sau đó, Nguyễn Trường L thay đổi lời khai, chỉ thừa nhận đã yêu cầu chi nhánh xuất bán hàng cho các đại lý theo Biên bản làm việc giữa L và công ty ngày 13/5/2023 với tổng số tiền chênh lệch công nợ của đại lý với hệ thống kế toán số tiền 554.980.765đ, trong số này bao gồm cả hàng khuyến mại, hàng tồn kho tại chi nhánh, tồn kho với tên đại lý C4. Do L ghép hàng của đại lý này để bán cho đại lý khác (ví dụ sổ xuất hàng của chi nhánh xuất hàng cho đại lý A nhưng L giao hàng cho đại lý B2), bán cho công trình, khách lẻ nhưng L không nhớ cụ thể tên đại lý, khách lẻ, công trình đã ghép hàng, đã thu tiền hay chưa, đã nộp về công ty chưa. Nguyễn Trường L không thừa nhận việc đã gọi điện, nhắn tin nhờ đại lý nhận nợ hộ số tiền 289.020.000đ. Việc theo dõi công nợ trên sổ của đại lý được L thừa nhận chữ ký, chữ viết là của L nhưng đây là sổ theo dõi công nợ đối với hàng L mua của công ty S2 và các công ty khác L không nhớ tên để bán cho đại lý.
Kết quả điều tra có đủ cơ sở xác định có 20 đại lý đối chiếu công nợ với L và công ty từ ngày 06/5/2023 đến 12/5/2023 là đúng, 14 đại lý khai báo L nhờ ký xác nhận hộ công nợ cho L với công ty (thực tế đại lý không nợ). Công ty S2 xác nhận không mở chi nhánh, không có nhà phân phối sản phẩm tại Thanh Hóa, không có hóa đơn giá trị gia tăng đã xuất bán sản phẩm cho Nguyễn Trường L (BL 1256).
Công ty S1 tố cáo Nguyễn Trường L chiếm đoạt số tiền 844.000.765đ, nhưng quá trình điều tra có đủ căn cứ xác định L đã thu tiền theo mã hàng của 39 đại lý (có 35 đại lý thật và 4 đại lý ảo) nhưng không nộp về công ty tổng số tiền là 725.011.252đ. Cụ thể như sau:
1/ Có 20 đại lý Nguyễn Trường L thừa nhận đã thu tiền nhưng không nộp về công ty mà sử dụng chi tiêu cá nhân với tổng số tiền 340.338.314đ.
Đối với các đại lý này, L thừa nhận có sự chênh lệch giữa công nợ thực tế tại đại lý với hệ thống kế toán do L đã lên đơn hàng cho mã đại lý này nhưng sau đó bán cho đại lý khác và bán cho khách lẻ. Lời khai của L phù hợp với lời khai của người liên quan, các tài liệu chứng cứ thu giữ. Trong đó, L đã thu của mã đại lý Hương H13 16.000.004đ, đại lý B3 7.010.011đ, đại lý P2 24.210.008đ, đại lý T19 7.039.509đ, đại lý Q1 1.360.000đ, đại lý Lịch Hương 5.554.503đ, đại lý H22 33.482.005đ, đại lý H23 17.580.001đ, đại lý C5 16.700.004đ, đại lý H22 26.810.004đ, đại lý H24 22.815.014đ, đại lý Tình Nhung 6.120.005đ, đại lý A 11.560.002đ, đại lý K1 22.986.007đ, đại lý Đ6 26.210.001đ, đại lý H21 13.362.003đ, đại lý B1 50.954.004đ, đại lý T20 7.290.207đ, đại lý Đ5 19.511.005đ, đại lý Đ7 3.784.017đ, tổng là 340.338.314đ. Số tiền này L đã thu (của các đại lý mua hàng) nhưng không nộp về công ty.
Riêng đại lý B1 khai báo không mua bán hàng hóa với Nguyễn Trường L mà giao dịch mua bán hàng hóa của công ty S1 với bà Trương Thị H12 là Trưởng chi nhánh T21, nhưng do trên hệ thống đại lý Biên N nằm trong địa bàn huyện do L phụ trách nên L đã ghép hàng vào mã số tên đại lý Biên N6 rồi bán cho các đại lý khác nên có sự chênh lệch công nợ thực tế của đại lý B1 với hệ thống kế toán số tiền 50.954.004đ.
2/ Có 04 đại lý Nguyễn Trường L tự làm thủ tục mở đại lý (đại lý ảo, không có thật) và yêu cầu chi nhánh xuất bán hàng cho mã đại lý, sau đó L đem hàng bán cho các đại lý khác hoặc khách lẻ để được hưởng chính sách chiết khấu và khuyến mại của công ty. Trong đó, L đã thu tiền của người mua với tên mã đại lý T22 số tiền 54.227.507đ, mã đại lý H25 21.135.005đ, mã đại lý D Duyên 44.091.723đ, tổng cộng là 119.454.235đ. Đối với mã đại lý C4, theo hệ thống kế toán tính đến ngày 07/5/2023 đại lý còn nợ công ty 26.602.247đ nhưng Bản đối chiếu công nợ ngày 07/5/2023 đại lý không còn nợ công ty và hiện còn tồn kho các sản phẩm và căn cứ vào báo giá của công ty thì tổng số tiền hàng tồn kho trị giá 55.875.000đ gồm sản phẩm chi nhánh xuất cho mã đại lý C4 là 26.602.247đ, sản phẩm L lên đơn hàng của đại lý khác để lại kho Chỉnh Hoàn là 29.272.753đ. Số hàng tồn kho sau khi đối chiếu công nợ L đã bán và nộp vào công ty. Như vậy, L đã thu tiền của 04 đại lý ảo nhưng không nộp về công ty số tiền là 90.181.482đ (119.454.235đ - 29.272.753đ).
3/ Có 14 đại lý Nguyễn Trường L không thừa nhận đã thu tiền, nhưng kết quả điều tra xác định có căn cứ L đã thu tiền hàng nhưng không nộp về công ty với tổng số tiền 294.491.456đ.
Đối với 14 đại lý này đều có Biên bản đối chiếu công nợ ghi nhận việc đại lý còn nợ tiền hàng của công ty, nhưng quá trình làm việc các đại lý khai báo có ký vào Biên bản đối chiếu công nợ có nội dung nợ tiền hàng là do L gọi điện, nhắn tin nhờ nhận nợ hộ để không bị công ty kỷ luật, còn thực tế các đại lý không nợ công ty. Cụ thể:
- Đại lý H20: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty S1 với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty A1, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/5/2023, ông Lê Văn T5 chủ đại lý ký xác nhận còn nợ công ty số tiền 19.000.000đ. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu điều tra, tin nhắn giữa L và ông Lê Văn T5, lời khai của ông T5, có đủ căn cứ xác định ông T5 đã thanh toán đủ tiền hàng cho L, việc ông ký nhận nợ số tiền 19.000.000đ là do L nhờ. Mặc dù bị cáo L không thừa nhận việc nhờ ông T5 nhận nợ hộ, nhưng lời khai của ông T5 phù hợp với nội dung các tin nhắn nên có căn cứ xác định đại lý Hoàng T13 không còn nợ tiền hàng của công ty, L đã thu của đại lý 19.484.006đ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý T: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty 44.694.005đ, nhưng Biên bản đối chiếu công nợ ngày 12/5/2023 ông Lục Đình T4 chủ đại lý ký xác nhận còn nợ công ty số tiền 10.880.000đ. Quá trình điều tra, ông T4 khai báo không còn nợ công ty nhưng do L nhờ nhận nợ hộ nên đã ký vào biên bản. Bị cáo Nguyễn Trường L không thừa nhận việc nhờ đại lý nhận nợ hộ, ông T4 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ khác chứng minh, nên đại lý T18 phải thanh toán số tiền này cho công ty. Căn cứ sổ sách theo dõi công nợ của công ty và biên bản đối chiếu công nợ, các tài liệu chứng cứ, lời khai liên quan, có đủ căn cứ xác định L đã thu tiền của mã đại lý Thụy Đ4 nhưng không nộp về công ty số tiền 33.814.0005đ (44.694.005-10.880.000).
- Đại lý Nam Huệ: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty C6, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 06/5/2023 ông Hà Sỹ N4 chủ đại lý ký xác nhận còn nợ công ty số tiền 34.295.000đ. Ông Hà Sỹ N4 khai báo do L nhờ nhận nợ hộ nên ông đã ký biên bản, nhưng thực tế ông chỉ còn nợ công ty 16.520.000đ, sau đó ông đã mua hàng của công ty thông qua L với tổng số tiền 20.350.000đ, do đó tính đến 18/5/2023 đại lý còn nợ thực tế công ty là 36.870.000đ, ngày 30/5/2023 L mua gạch của đại lý với giá trị 30.670.000đ nên ông đã trừ nợ trong số tiền nợ công ty và còn lại 6.200.000đ ông trả tiền mặt, L đã ký xác nhận vào sổ của ông N4 “ngày 30/5/2023 đã thanh toán hết” (BL 787). Bị can L không thừa nhận nhờ ông N4 ký nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận có ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ số tiền 1.755.079đ, bị can thừa nhận chữ ký trên sổ là của mình nhưng là thanh toán tiền hàng không phải của công ty S1, không liên quan đến nợ của công ty. Mặc dù bị cáo không thừa nhận, nhưng căn cứ tài liệu điều tra, lời khai của ông N4 phù hợp với tài liệu sổ sách thu giữ, ông chỉ mua sản phẩm của công ty S1, không mua sản phẩm khác, nên có đủ căn cứ xác định L đã thu số tiền 32.539.921đ của mã đại lý Nam Huệ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý Trọng Huê: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty B4, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/5/2023 bà Nguyễn Thị H17 chủ đại lý ký xác nhận còn nợ công ty số tiền 16.890.000đ. Bà Nguyễn Thị H17 khai báo do L nhờ nhận nợ hộ nên bà đã ký biên bản, nhưng thực tế bà chỉ còn nợ công ty 4.000.000đ. Bị can L không thừa nhận nhờ bà H17 ký nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận do L ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ số tiền 5.182.912đ. Do bà H17 không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc L nhờ nhận nợ hộ, nên đại lý phải trả nợ cho công ty. Căn cứ sổ sách theo dõi công nợ của công ty và biên bản đối chiếu công nợ, các tài liệu chứng cứ, lời khai liên quan có đủ căn cứ xác định L đã thu tiền của mã đại lý Trọng H18 nhưng không nộp về công ty số tiền 5.182.912đ (22.072.912-16.890.000).
- Đại lý L7: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty B5, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 06/5/2023 có chữ ký của Hoàng Trung T14 (con bà trai Nguyễn Thị L1 - chủ đại lý) xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 18.820.000đ. Bà Nguyễn Thị L1 khai báo và cung cấp tài liệu có chữ viết, chữ ký của L thể hiện tính đến ngày 03/02/2023 bà L1 đã đặt tiền trước cho L để mua hàng với tổng số tiền 46.850.000đ, đến ngày 20/3/2023 bà đã mua sản phẩm của công ty S1 thông qua L với tổng số tiền 32.690.000đ, số tiền bà đặt trước cho L còn 14.160.000đ chưa lấy hàng. Sau đó, bà L1 tiếp tục đặt trước cho L 20.000.000đ, do đó tổng số tiền bà L1 đã đưa cho L là 34.160.000đ. Bị cáo Nguyễn Trường L thừa nhận khi đối chiếu công nợ đã tính nhầm nên đã lập Biên bản đối chiếu đại lý nợ công ty 18.820.000đ, nhưng thực tế đại lý không còn nợ công ty (BL 1558). Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Hoàng Trung T14 về việc không ký vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 06/5/2023, lời khai của bà L1 về việc không nợ công ty. Trên cơ sở tài liệu do bà L1 cung cấp, lời khai của bị cáo, kết quả giám định chữ viết, chữ ký, lời khai người liên quan, có đủ căn cứ xác định L đã thu tiền của mã đại lý L7 26.525.807đ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý N: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty A2, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2023 bà Vũ Thị T3 chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 10.000.000 đ. Bà Vũ Thị T3 khai báo do L nhờ nhận nợ hộ nên bà đã ký biên bản, nhưng thực tế bà không còn nợ công ty. Bà T3 cung cấp cho cơ quan điều tra tin nhắn về việc L nhờ nhận nợ hộ (BL 877). Bị cáo L không thừa nhận nhờ bà T3 ký nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận do L ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ số tiền 4.963.586đ. Mặc dù bị cáo L không thừa nhận việc nhờ nhận nợ hộ nhưng lời khai của bà T3 phù hợp với nội dung tin nhắn giữa L và bà T3 nên có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 14.963.586đ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý Ngọc V1: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty B6, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/5/2023, bà Nguyễn Thị N3 chủ đại lý ký xác nhận (ký tên Ngọc V1) đại lý còn nợ công ty số tiền 14.580.000 đ. Bà Nguyễn Thị N3 khai báo do L nhờ nhận nợ hộ nên bà đã ký biên bản, đến ngày 12/5/2023 bà đã thanh toán cho công ty Q2 số tiền 14.580.000đ nên bà không còn nợ công ty. Bà N3 cung cấp cho cơ quan điều tra tin nhắn về việc L nhờ nhận nợ hộ (BL 909A). Bị cáo L không thừa nhận nhờ bà N3 ký nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận do L ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ số tiền 8.121.048đ. Mặc dù bị cáo L không thừa nhận việc nhờ nhận nợ hộ nhưng lời khai của bà N3 phù hợp với nội dung tin nhắn giữa L và bà N3, nên có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 22.701.048đ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý T17: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty C7, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 11/5/2023 bà Nguyễn Thị Đ chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 18.690.000đ. Bà Nguyễn Thị Đ khai báo do L nhờ nhận nợ hộ nên bà đã ký biên bản, nhưng thực tế đại lý không còn nợ công ty. Bà Đ cung cấp cho cơ quan điều tra sổ ghi chép có chữ ký của L và tin nhắn về việc L nhờ nhận nợ hộ (BL 951, 952). Bị cáo L không thừa nhận nhờ bà Đ ký nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận do L ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ số tiền 20.444.560đ. Mặc dù bị cáo L không thừa nhận việc nhờ nhận nợ hộ, nhưng lời khai của bà Đ phù hợp với nội dung tài liệu sổ sách theo dõi, tin nhắn giữa L và bà Đ, nên có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 39.134.560đ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý Thức N7: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty B7, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 06/5/2023 bà Lê Thị N2 chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 13.050.000đ. Bà N2 khai báo đã ký biên bản đối chiếu công nợ ngày 06/5/2023, đến ngày 12/5/2023 bà đã thanh toán cho L 10.000.000đ, còn nợ lại 3.050.000đ, L đã ký xác nhận vào sổ. Bà N2 cung cấp cho cơ quan điều tra sổ ghi chép có chữ ký, chữ viết của L (BL 986). Bị cáo L thừa nhận chữ ký chữ viết trên tài liệu bà N2 cung cấp là chữ viết, chữ ký của L, do L ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ số tiền 12.849.775đ. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu giữ, lời khai nhận của bị can, lời khai người liên quan, kết quả giám định, có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 22.849.775đ (25.899.775-3.050.000) nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý Đ5: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty B8, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 07/5/2023 ông Nguyễn Văn Đ3 chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 37.720.000đ. Ông Nguyễn Văn Đ3 và bà Lê Thị Thu H3 (vợ ông Đ3) khai báo không ký biên bản đối chiếu công nợ ngày 07/5/2023, tính đến ngày 17/5/2023 đại lý Đ5 chỉ còn nợ công ty A3 và cung cấp cho cơ quan điều tra sổ ghi chép có chữ ký, chữ viết của L (BL 1019). Bị cáo L thừa nhận tính đến 13/5/2023 do L ghép hàng nên có sự chênh lệch công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ của công ty tăng thêm số tiền 8.185.532đ, chữ ký chữ viết trên tài liệu bà H3 cung cấp là chữ viết, chữ ký của L. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu giữ, lời khai nhận của bị can, lời khai người liên quan, kết quả giám định, có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 17.024.468đ (29.534.468-12.510.000) nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý H19: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty C8, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/5/2023 ông Ngô Văn H2 chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 34.060.000đ. Ông Ngô Văn H2 khai báo đã ký biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/5/2023 là do L nhờ nhận nợ hộ, thực tế đại lý không còn nợ công ty. Bị can L không thừa nhận nhờ ông H2 nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận do bị chênh lệch giá nên L phải chịu trách nhiệm nộp bù cho đại lý 288.028đ. Do ông H2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc L nhờ nhận nợ hộ nên đại lý phải có trách nhiệm thanh toán tiền cho công ty số tiền 34.060.000đ. Tuy nhiên, căn cứ kết quả điều tra, đủ căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý H19 288.028đ (34.348.028-34.060.000) nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý H20: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty C9, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2023 bà Nguyễn Thị T1 chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 34.705.000đ. Bà Nguyễn Thị T1 khai báo do L nhờ ký nhận nợ hộ nên đã ký biên bản, thực tế thời điểm này đại lý chỉ còn nợ công ty I, L đã ký xác nhận vào sổ. Bà T1 cung cấp cho cơ quan điều tra sổ ghi chép có chữ ký, chữ viết của L (BL 1093). Bị can L thừa nhận chữ ký, chữ viết trên tài liệu bà T1 cung cấp là chữ viết, chữ ký của L nhưng cho rằng đây là tiền đại lý nợ cá nhân L chứ không phải nợ công ty, thừa nhận số tiền chênh lệch trên cơ sở xác nhận công nợ tại đại lý với hệ thống theo dõi công nợ là 251.014đ, đây là tiền chênh lệch ghép hàng không đủ số lượng nên không được hưởng chính sách khuyến mại. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu giữ, lời khai nhận của bị cáo, lời khai người liên quan, kết quả giám định, có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 25.596.014đ (34.956.014 - 9.360.000) nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý Cường Vân: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty A4, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 07/5/2023 bà Nguyễn Thị V chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 29.150.000đ. Bà Nguyễn Thị V và anh Hồ Duy C3 (con trai bà V) khai báo do L nhờ bà V ký nhận nợ hộ nên đã ký biên bản, thực tế thời điểm này đại lý không còn nợ công ty. Ngày 05/01/2023 bà V đặt tiền trước cho L 25.000.000đ để được nhận hàng khuyến mại khi mua sản phẩm của công ty S1, L đã ký xác nhận vào sổ của bà và sau đó đã giao hàng tương đương với số tiền nêu trên và sản phẩm khuyến mại là bồn ngang inox 1500 lít và sau đó bà V không đặt mua các sản phẩm của công ty. Bà V cung cấp cho cơ quan điều tra sổ ghi chép có chữ ký, chữ viết của L (BL 1118). Bị can L không thừa nhận nhờ bà V nhận nợ hộ, chỉ thừa nhận đã ghép hàng của đại lý khác để bán cho đại lý Cường V2 nên tính đến ngày 05/5/2023 đại lý còn nợ L 29.150.000đ chênh lệch so với công nợ trên hệ thống là 12.847.490đ, L không rõ nội dung sổ của bà V2. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu chứng cứ thu giữ, lời khai nhận của bị cáo, lời khai người liên quan, kết quả giám định, có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 16.302.510đ nhưng không nộp về công ty.
- Đại lý Hiệp Huệ: trên cơ sở Biên bản làm việc ngày 13/5/2023 của công ty với bị cáo Nguyễn Trường L xác định đại lý còn nợ công ty B9, tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2023 ông Nguyễn Văn H1 chủ đại lý ký xác nhận đại lý còn nợ công ty số tiền 10.035.000đ. Ông H1 khai báo do L nhờ ký nhận nợ hộ nên đã ký biên bản với số tiền 10.035.000đ, nhưng thực tế thời điểm này đại lý chỉ còn nợ công ty 9.935.000đ, đến ngày 12/5/2023 ông H1 chuyển khoản thanh toán cho L 3.000.000đ, đến 30/6/2023 ông tiếp tục chuyển khoản cho L 3.000.000đ, còn nợ 3.935.000đ, L đã ký xác nhận vào sổ. Ông H1 cung cấp cho cơ quan điều tra sổ ghi chép có chữ ký, chữ viết của L (BL 1149). Bị can L không thừa nhận đã nhờ ông H1 nhận nợ hộ mà chỉ thừa nhận do L ghép hàng vào đại lý H để bán cho đại lý khác nên có số tiền chênh lệch giữa đối chiếu công nợ thực tế tại đại lý với hệ thống của công ty là 11.984.816đ. L thừa nhận chữ ký chữ viết trên tài liệu ông H1 cung cấp là chữ viết, chữ ký của L nhưng cho rằng đây là tiền đại lý nợ cá nhân L chứ không phải nợ công ty. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu giữ, lời khai nhận của bị cáo, lời khai người liên quan, kết quả giám định, có căn cứ xác định L đã thu tiền của đại lý 18.084.816đ (22.019.816 - 3.935.000) nhưng không nộp về công ty.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên các tài liệu thu thập; kết quả chữ viết, chữ ký trên các tài liệu thu thập là của Nguyễn Trường L.
Do không đủ căn cứ chứng minh Nguyễn Trường L đã thu tiền nhưng không nộp về công ty nên đại lý Cường H5 phải thanh toán cho công ty S1 số tiền 5.284.513đ, đại lý T18 phải thanh toán 10.880.000đ, đại lý T23 phải thanh toán 12.890.000đ, đại lý H19 phải thanh toán 34.060.000đ, tổng cộng: 63.114.000đ.
Mặc dù bị cáo Nguyễn Trường L không thừa nhận đã thu tiền của 14 đại lý (tại phần 3) nhưng không nộp về công ty mà chi tiêu cá nhân với số tiền 294.491.456đ. Tuy nhiên, căn cứ lời khai ban đầu của bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu giữ, kết luận giám định, có căn cứ xác định L đã thu tiền của các đại lý nhưng không nộp về công ty. Việc bị cáo cho rằng các tài liệu liên quan là thể hiện việc giao nhận hàng hóa công nợ giữa cá nhân bị cáo với các đại lý, không liên quan đến hàng hóa, công nợ của công ty S1, bị cáo không nhắn tin nhờ đại lý ký xác nhận nợ hộ, nhưng kết quả điều tra xác định các tài liệu là nội dung tin nhắn, sổ sách ghi chép có chữ ký xác nhận của bị cáo, lời khai của các đại lý về việc không có công nợ giữa cá nhân bị cáo với các đại lý mà là công nợ với công ty khi mua hàng hóa của công ty.
- Về phần dân sự: bị cáo Nguyễn Trường L đã nộp khắc phục số tiền 94.554.000đ, công ty S1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ tiền chiếm đoạt.
* Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-P3 ngày 19/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Trường Linh về tội "Tham ô tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: áp dụng điểm a khoản 3 điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trường L từ 15 đến 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Về phần dân sự: bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 94.554.000đ, số tiền còn chiếm đoạt buộc bị cáo phải thanh toán cho công ty S1.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
* Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo:
Nếu việc điều tra, truy tố của Cơ quan CSĐT và VKSND tỉnh Thanh Hóa được thực hiện đầy đủ và có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trường L về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 353 BLHS thì căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo trước khi phạm tội... có cơ sở xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt.
Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa, xét thấy việc điều tra, truy tố đối với vụ án chưa đầy đủ, chưa xem xét toàn diện vụ án, chưa có đủ căn cứ khẳng định bị cáo nhờ các đại lý nhận nợ hộ, mà số nợ này là nợ của các đại lý với cá nhân bị cáo, vì bị cáo mua hàng của nhiều công ty khác để bán cho các đại lý; chưa làm rõ số điện thoại bị cáo sử dụng, chưa xác minh nguồn gốc tin nhắn... Đề nghị HĐXX xem xét trả hồ sơ để điều tra bổ sung do thiếu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và những tình tiết khác liên quan đến một phần tiền chiếm đoạt mà Công ty S1 tố cáo để có phán quyết công minh, khách quan, bảo đảm quyền lợi cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận 01 phần hành vi phạm tội của mình và trình bày quá trình điều tra bị cáo bị cơ quan điều tra ép cung, khi bị bắt giữ bị cáo không được xem hết các tài liệu của công ty S1 và phải làm theo sự chỉ dẫn của cơ quan điều tra. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền còn chiếm đoạt.
Tại phiên tòa, điều tra viên khẳng định việc khởi tố, điều tra đối với bị cáo là đúng trình tự, thủ tục và đúng quy định pháp luật, đảm bảo sự minh bạch, khách quan. Trình bày của bị cáo bị cơ quan điều tra ép cung và buộc làm theo chỉ dẫn là không cơ cơ sở. Về việc xác định số điện thoại bị cáo sử dụng: do sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn, nên cơ quan điều tra tra cứu thì số điện thoại của bị cáo đã dừng hoạt động (phù hợp với 02 biên bản xác minh của cơ quan điều tra đối với mẹ bị cáo về việc số điện thoại của bị cáo không còn hoạt động). Mặt khác, các đại lý đều ghi số điện thoại của bị cáo để giao dịch, liên lạc; cơ quan điều tra đã làm việc với các đại lý, trích sao một số nội dung tin nhắn, có tin nhắn bị cáo thu tiền nhưng không giao nộp cho công ty. Vì vậy, đề nghị của Luật sư trả hồ sơ điều tra bổ sung là không có cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: trong thời gian làm nhân viên kinh doanh của công ty S1 tại Chi nhánh Thanh Hóa 2, được phân công phụ trách thị trường các huyện T, N, C, Lang C2, Bá T15, bị cáo đã có hành vi thu tiền hàng của các đại lý mua hàng hóa của công ty S1 nhưng không nộp về công ty mà chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân. Cụ thể: thu của 20 đại lý với tổng số tiền 340.338.314đ, thu của 04 đại lý ảo (do bị cáo tự lập) tổng số tiền 90.181.482đ. Đến nay, bị cáo đã khắc phục được 94.554.000đ cho công ty S1.
Mặc dù bị cáo không thừa nhận đã thu tiền của 14 đại lý (tại phần 3) nhưng không nộp về công ty mà chi tiêu cá nhân với tổng số tiền 294.491.456đ. Tuy nhiên, căn cứ lời khai ban đầu của bị cáo phù hợp với lời khai những người liên quan, tài liệu chứng cứ thu giữ, kết luận giám định, có căn cứ xác định bị cáo đã thu tiền của 14 đại lý này nhưng không nộp về công ty. Việc bị cáo cho rằng các tài liệu liên quan thu giữ là thể hiện việc giao nhận hàng hóa công nợ giữa cá nhân bị cáo với các đại lý, không liên quan đến hàng hóa, công nợ của công ty S1 và bị cáo không nhắn tin nhờ các đại lý ký xác nhận nợ hộ, nhưng qua kết quả điều tra xác định các tài liệu là nội dung tin nhắn, sổ sách ghi chép có chữ ký xác nhận của bị cáo, lời khai của các đại lý về việc không có công nợ giữa cá nhân bị cáo với các đại lý mà là công nợ với công ty khi mua hàng hóa của công ty S1. Mặt khác, trình bày của bị cáo tại phiên tòa về việc quá trình điều tra bị cáo bị cơ quan điều tra ép cung và buộc làm theo sự chỉ dẫn là không có cơ sở, không có tài liệu chứng minh. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã có hành vi lợi dụng chức năng, nhiệm vụ được giao là nhân viên kinh doanh, được phép thu tiền hàng, bị cáo đã thu tiền của các đại lý mua hàng của công ty S1 nhưng không nộp về công ty mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân tổng số tiền 725.011.252đ.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 353 BLHS, như Quyết định truy tố và luận tội của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ pháp luật.
Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung là không có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây ảnh hưởng đến uy tín, quyền lợi và gây thiệt hại về tài sản của doanh nghiệp, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh, cách ly khỏi xã hội để giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa chung
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
+ Tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
+ Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo 01 phần hành vi phạm tội, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; sau khi phạm tội đã tự nguyện giao nộp 01 phần số tiền chiếm đoạt; gia đình bị cáo có công với đất nước, có 02 bác ruột là liệt sỹ, bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ đẻ bị cáo là người đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ (có giấy xác nhận) nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: số tiền bị cáo chiếm đoạt của công ty S1 là 725.011.252đ, đã khắc phục 94.554.000đ, còn lại 630.457.252đ. Nay công ty S1 yêu cầu bị cáo phải trả lại là có căn cứ, nên áp dụng Điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải trả cho công ty S1 số tiền 630.457.252đ.
[6] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm a khoản 3 điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136; khoản 2 Điều 298; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội "Tham ô tài sản".
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trường L 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 06/6/2024).
Về dân sự: buộc bị cáo phải trả cho công ty S1 số tiền 630.457.252đ (sáu trăm ba mươi triệu, bốn trăm năm bảy nghìn, hai trăm năm hai đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, công ty S1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền phải thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 29.218.290đ (hai mươi chín triệu, hai trăm mười tám nghìn, hai trăm chín mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm (đối với số tiền còn phải thanh toán).
Về quyền kháng cáo: bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 113/2024/HSST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tham ô tài sản (criminal case)
- Số bản án: 113/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tham ô tài sản"
