TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HSST Ngày: 17/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Phúc và ông Trương Ngọc Cường.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
Trương Vinh Q
, sinh năm 1990; HKTT: khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn L, sinh năm 1967 và bà Ngô Thị H, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị Cẩm A, sinh năm 1999 và có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Tại Bản án số 201/2019/HS-ST ngày 22/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 200.000.000 đồng là hình phạt chính về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 10/10/2019.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 đến ngày 10/7/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo Lĩnh. Có mặt.
Nguyễn Văn C
, sinh năm 1995; HKTT: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân O, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1998; con: có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 10/6/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn C1; sinh năm: 1978; HKTT: khu F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Đặng Đình L1; sinh năm: 1997; HKTT: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: 71Ð, S, phường N, thành phố B; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H1; sinh năm: 1979; HKTT: khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Anh Đặng Mạnh L2; sinh năm: 1992; HKTT: khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Anh Vũ Văn N1; sinh năm: 1991; HKTT: khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Ông Trương Văn L; sinh năm: 1967; HKTT: khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Vinh Q kinh doanh quán nướng BBQ tại số B đường N, khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2017. Năm 2020, Q mượn Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 21A.8000054 của ông Trương Văn L, sinh năm 1967 (là bố đẻ Q) để kinh doanh thêm dịch vụ cầm đồ tại cửa hàng Cầm đồ 24H, có cùng địa chỉ với quán N2. Q thuê Nguyễn Văn C làm bảo vệ, trông xe cho khách tại quán nướng và cửa hàng cầm đồ với mức lương 7.000.000đ/tháng, từ tháng 4/2024, Q tăng mức lương cho C lên 8.000.000đ/tháng.
Khi khách hàng có nhu cầu muốn vay tiền phải để lại tài sản thế chấp hoặc tín chấp căn cước công dân để làm tin. Q kiểm tra tài sản, giấy tờ tùy thân đúng chính chủ thì quyết định số tiền cho vay và mức lãi suất. Nếu khách hàng đồng ý, Q yêu cầu khách hàng viết 01 bản giấy vay tiền hoặc hợp đồng cầm đồ để Q giữ, khi khách hàng trả hết số tiền vay Q sẽ hủy bỏ giấy tờ. Khi Q không có mặt tại cửa hàng Cầm đồ 24H, nếu có khách đến vay tiền thì Q nhờ C kiểm tra tài sản cầm cố và làm thủ tục cho khách vay tiền với lãi suất cho vay do Q quy định. Sau đó, Q chuyển tiền cho khách hàng vay qua tài khoản ngân hàng. Q sử dụng 02 tài khoản: Ngân hàng V số [...] và Ngân hàng V1 số 9942345888 để chuyển tiền cho khách vay và nhận tiền lãi, tiền nợ gốc do khách chuyển trả. Q không ghi chép, theo dõi hoạt động cho vay trên sổ sách hoặc phần mềm điện tử nào.
Từ tháng 10/2022, Q đã cho nhiều khách hàng có nhu cầu vay tiền với lãi suất cao, hình thức cho vay lãi ngày, lãi suất từ 3.333 đồng đến 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương mức lãi suất từ 119,9% đến 180%/năm), cao gấp 6,08 lần đến 9,12 lần so với mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định, cụ thể như sau:
Anh Vũ Văn N1
, sinh năm 1991, HKTT: khu P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh vay 02 lần:Lần 1: Ngày 25/10/2022 vay 40.000.000 đồng, thế chấp 01 xe môtô nhãn hiện Honda SH, biển kiểm soát 99G1-595.04. Do Q không có mặt tại cửa hàng nên C kiểm tra xe môtô và gọi điện thoại báo cho Q biết. Q nói với C đồng ý cho anh N1 vay số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đ/01 tháng (tương đương mức lãi suất 4.167đ/01 triệu/01 ngày), không xác định thời hạn. C hướng dẫn anh N1 viết Hợp đồng cầm đồ. Sau đó, Q chuyển khoản số tiền 40.000.000 đồng cho anh N1. Tổng số tiền lãi anh N1 đã trả Q là 30.000.000 đồng/06 tháng. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 4.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 26.000.000 đồng. Anh N1 đã trả tiền gốc cho Q.
Lần 2: Ngày 14/4/2023 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/01 triệu/01 ngày, thế chấp điện thoại Iphone 14 Promax. Ngày 19/4/2023, anh N1 chuyển khoản trả tiền gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi 600.000 đồng/06 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 65.753 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 534.247 đồng.
Anh Nguyễn Văn H1
, sinh năm 1979, HKTT: khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh: Ngày 21/12/2022 vay 30.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/01 triệu/01ngày, không thế chấp tài sản, không xác định thời hạn; từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/01/2024, mức lãi suất là 4.000đ/01 triệu/01 ngày; từ ngày 03/01/2024 đến ngày 24/5/2024 mức lãi suất là 3.333đ/01 triệu/01 ngày. Anh H1 đã chuyển khoản, trả tiền mặt lãi tổng số là 57.300.000 đồng/531 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 8.728.767 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 48.571.233 đồng. Đến nay anh H1 chưa trả tiền gốc cho Q.Anh Đặng Đình L1
, sinh năm 1995, HKTT: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An: Anh Linh cầm cố xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 37E1-545.92 vay tiền của Q 05 lần. Tất cả các lần anh L1 vay tiền, C đều giúp Q kiểm tra xe mô tô và hướng dẫn anh L1 viết Hợp đồng cầm đồ còn Q chuyển tiền cho vay và thu tiền lãi của anh L1, cụ thể:Lần 1: Ngày 26/12/2022 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 4.500đ/01 triệu/01 ngày. Ngày 06/01/2023, anh L1 chuyển khoản trả Q tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi 2.750.000 đồng/12 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 328.767 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 2.421.233 đồng.
Lần 2: Ngày 16/01/2023 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 3.333đ/01 triệu/01 ngày. Ngày 18/01/2023, anh L1 chuyển khoản trả Q tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi 500.000 đồng/03 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 82.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 417.808 đồng.
Lần 3: Ngày 07/02/2023 vay 30.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/01 triệu/01 ngày. Ngày 08/02/2023, anh L1 chuyển khoản trả Q tiền gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi 300.000 đồng/02 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 32.877 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 267.123 đồng.
Lần 4: Ngày 13/02/2023 vay 30.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, anh L1 chuyển khoản trả Q tiền gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi 300.000 đồng/02 ngày theo thỏa thuận. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 32.877 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 267.123 đồng.
Lần 5: Ngày 20/4/2023 vay 40.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/01 triệu/01 ngày. Ngày 02/6/2023, anh L1 chuyển khoản trả Q tiền gốc 40.000.000 đồng và tiền lãi 7.800.000 đồng/44 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 964.384 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 6.835.616 đồng.
Tổng số tiền Q cho anh Đặng Đình L1 vay là 200.000.000 đồng. Tiền lãi thu được là 11.650.000 đồng. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.441.096 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 10.208.904 đồng. Anh L3 đã trả hết tiền gốc cho Q.
Anh Trần Văn C1
, sinh năm 1978, HKTT: Khu F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh: Ngày 11/01/2023 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày, không thế chấp tài sản, không xác định thời hạn, đã chuyển khoản trả tiền lãi tổng số tiền là 98.000.000 đồng/498 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 13.643.836 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 84.356.164 đồng. Đến nay anh C1 chưa trả tiền gốc cho Q.Anh Đặng Mạnh L2
, sinh năm 1992, HKTT: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh: Ngày 27/8/2023 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/01 triệu/01 ngày, không thế chấp tài sản, không xác định thời hạn, đã chuyển khoản trả tiền lãi tổng số tiền là 22.200.000 đồng/267 ngày. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 2.871.232 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 19.328.768 đồng. Đến nay anh L2 chưa trả tiền gốc cho Q.
Tổng số tiền Trương Vinh Q cho 05 người vay là 360.000.000 đồng, thu được tiền lãi là 219.750.000 đồng. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 30.750.684 đồng, thu lợi vượt mức tiền lãi cao nhất theo quy định của Nhà nước số tiền là 188.999.316 đồng.
Nguyễn Văn C giúp Q cho anh Vũ Văn N1 vay 01 lần và anh Đặng Đình L1 vay 05 lần, tổng số tiền cho vay là 240.000.000 đồng, số tiền lãi Q thu được là 41.650.000 đồng. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 5.441.096 đồng, thu lợi vượt mức tiền lãi cao nhất theo quy định của Nhà nước số tiền là 36.208.904 đồng.
Quá trình điều tra, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hàng vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của mình như đã nên trên.
Như vậy, Nhà nước quy định lãi suất cao nhất là 20%/ 01 năm (12 tháng hoặc 365 ngày) tương đương lãi suất 01 ngày là: 0,000548% hoặc 548 đồng/01 triệu/01 ngày. Bị cáo 10 lần cho vay với lãi suất 3.333 đồng/01 triệu/01 ngày đến 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, cao gấp 6,08 lần đến 9,12 lần so với quy định mức lãi suất cao nhất của Nhà nước.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 100/CT-VKSBN-P1 ngày 09/8/20234 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định truy tố các bị cáo Trương Vinh Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Các bị cáo Q trình bày do những người vay cần tiền nên bị cáo cho vay. Việc lãi suất bên vay đồng ý, bị cáo không ép buộc, không de dọa hay gây áp lực, khủng bố gì những người vay. Bị cáo nhận thức được cho vay lãi nặng là sai nhưng vì sau đại dịch Covid-19 việc làm ăn khó khăn, muốn kiếm thu nhập bị cáo đã phạm tội, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Bị cáo mong HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo C trình bày, bị cáo làm thuê bảo vệ của hàng cho Q, thỉnh thoảng Q có nhờ bị cáo kiểm tra các tài sản cầm cố, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai. Bị cáo chỉ làm công ăn lương, không được hưởng lời gì. Bị cáo mong HĐXX xem xét hoàn cảnh phạm tội của bị cáo cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Ông Trương Văn L trình bày ông cho Q (là con trai ông) mượn giấy phép cầm đồ để kinh doanh. Ông không biết việc Q và C cho vay lại nặng. Ông không bị thu từ tài sản, đồ vật gì, không có ý kiến gì.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đã có lời khai trong giai đoạn điều tra, HĐXX công bố lời khai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trương Vinh Q, Nguyễn Văn C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Trương Vinh Q từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/9/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Q từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
Truy thu của Trương Vinh Q 290.750.684 đồng để sung Ngân sách nhà nước (trong đó 260.000.000 đồng là tiền gốc cho vay đã thu lại và 30.750.684 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự).
Buộc Trương Vinh Q trả lại số tiền lãi thu lời bất chính cho những người vay, cụ thể: anh Vũ Văn N1 26.534.247 đồng; anh Nguyễn Văn H1 48.571.233 đồng; anh Đặng Đình L1 10.208.904 đồng; anh Trần Văn C1 84.356.164 đồng; anh Đặng Mạnh L2 19.328.768 đồng.
Buộc 03 người vay chưa trả lại tiền gốc nộp lại số tiền vay để sung Ngân sách nhà nước, cụ thể: anh Nguyễn Văn H1 30.000.000 đồng; anh Trần Văn C1 50.000.000 đồng; anh Đặng Mạnh L2 20.000.000 đồng.
Các bị cáo Q, C đều không tranh luận với VKS mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Ông Trương Văn L không có ý kiến tranh luận gì với VKS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B; Điều tra viên Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản thu giữ, các tài liệu chuyển hóa số liệu từ sổ sách thu giữ tại các địa điểm cho vay cầm cố của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 10/2022, tại khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh Trương Vinh Q đã cho nhiều người vay tổng số tiền 360.000.000 đồng với lãi suất từ 3.333đ/01 triệu/01 ngày đến 5.000đ/01 triệu/01 ngày, cao gấp 6,08 lần đến 9,12 lần so với Mức lãi suất cao nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Dân sự, mục đích thu lợi bất chính. Cụ thể: cho anh Vũ Văn N1 vay 02 lần tổng số tiền 60.000.000 đồng; cho anh Nguyễn Văn H1 vay số tiền 30.000.000 đồng; cho anh Đặng Đình L1 vay 05 lần tổng số tiền 200.000.000 đồng; cho anh Trần Văn C1 vay số tiền là 50.000.000 đồng; cho anh Đặng Mạnh L2 vay số tiền là 20.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi thu được là 219.750.000 đồng. Mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 30.750.684 đồng; thu lợi bất chính 188.999.316 đồng.
[3] Như vậy, hành vi của các bị cáo Trương Vinh Q đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính. Các bị cáo đã lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người vay tiền để cho vay với lãi suất cao gấp nhiều lần quy định của pháp luật, thu lợi bất chính, làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của nhiều gia đình và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Trương Vinh Q giữ vai trò chính, là người khởi xướng, chuẩn bị vốn và hưởng lợi bất chính toàn bộ số tiền lãi thu được; bị cáo C được Q thuê làm bảo về trông giữ xe, có tham gia giúp sức cho bị cáo Q cho 02 người vay tiền, không hưởng lợi từ hành vi phạm tội. Do đó, C có vài trò thấp hơn Q.
[6] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo, HĐXX nhận thấy: Về nhân thân: Bị cáo Q có nhân thân xấu, năm ngày 22/8/2019 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 200.000.000 đồng là hình phạt chính về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Q đã chấp hành xong bản án ngày 10/10/2019.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trương Vinh Q quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có xác nhận của Công an quận B việc có công tố giác tội phạm; bị cáo đã nộp 188.999.316 đồng tiền thu lợi bất chính để trả lại cho những người vay tiền nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s, b, u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo nộp 150.000.000 đồng tiền dùng vào việc phạm tội, 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm và có xác nhận tham gia ủng hộ phòng chống dịch Covid-19; người vay tiền có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Nguyễn Văn C quá trình điều tra, tuy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi hành vi phạm tội bị phát hiện, C đã đến Cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Q cho nhiều người vay lãi nặng, trong đó 02 lần thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng TNHS.
[10] Xét thấy bị cáo Trương Vinh Q có nhân thân xấu, đã từng phạm tội cùng loại tội, lẽ ra cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo, tuy nhiên, xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có 03 tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; trong giai đoạn điều tra, truy tố đã chủ động nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi bất chính và tiền dùng để cho vay thể hiện bị cáo đã tự ý thức được trách nhiệm chấp hành pháp luật. Bị cáo cho vay lãi nặng không dưới hình thức băng, ổ nhóm, không có hành vi đe dọa, đòi nợ; số tiền cho vay không lớn. Bị cáo không thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn án treo. Do đó, HĐXX xét thấy không cần bắt bị cáo Q phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; đồng thời áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung theo nguyên tắc xứ lý đối với người phạm tội của Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 201 BLHS cũng đủ nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[11] Đối với bị cáo Nguyễn Văn C, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tham gia với vai trò giúp sức không đáng kể, không được hưởng lợi gì; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như đề nghị của VKS cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[12] Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp; Truy thu của Trương Vinh Q số tiền dùng để cho vay lãi nặng là 360.000.000 đồng. Q đã thu lại tiền gốc cho vay là 260.000.000 đồng, còn 100.000.000 đồng 03 người vay chưa trả Q, cụ thể: anh Nguyễn Văn H1 30.000.000 đồng; anh Trần Văn C1 50.000.000 đồng; anh Đặng Mạnh L2 20.000.000 đồng. Do đó, cần buộc những người này nộp lại số tiền vay để sung Ngân sách nhà nước. Số tiền Q dùng để cho vay còn phải truy thu là 260.000.000 đồng. Đối với khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự Q đã thu là 30.750.684 đồng cũng cần truy thu sung ngân sách Nhà nước. Như vậy, tổng số tiền bị cáo Q bị truy thu sung Ngân sách nhà nước là: 260.000.000 đồng + 30.750.684 đồng = 290.750.684 đồng.
[13] Đối với 188.999.316 đồng bị cáo Q đã thu lời bất chính của những người vay, cụ thể: anh Vũ Văn N1 26.534.247 đồng; anh Nguyễn Văn H1 48.571.233 đồng; anh Đặng Đình L1 10.208.904 đồng; anh Trần Văn C1 84.356.164 đồng; anh Đặng Mạnh L2 19.328.768 đồng. Do không có căn cứ để xác định người này dùng tiền vào mục đích bất hợp pháp nên buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay tổng số tiền tương ứng nêu trên.
[14] Những nội dung liên quan trong vụ án: Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax Quang sử dụng để giao dịch chuyển khoản cho khách vay tiền và chiếc điện thoại Redmi của C dùng để liên lạc với Q thực hiện việc cho vay lãi nặng, Q và C khai nhận đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Đối với ông Trương Văn L cho Q mượn Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau đó Q thực hiện hành vi phạm tội. Ông L không biết việc Q cho khách vay tiền với lãi suất cao nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà có Công văn đề nghị Công an thành phố B xử phạt hành chính về hành vi “cho mượn giấy phép kinh doanh” là phù hợp.
[15] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trương Vinh Q, Nguyễn Văn C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Trương Vinh Q 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/9/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Q 40.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Trương Vinh Q cho UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) sung Ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Truy thu của Trương Vinh Q 290.750.684 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
Buộc Trương Vinh Q trả lại cho anh Vũ Văn N1 26.534.247 đồng; anh Nguyễn Văn H1 48.571.233 đồng; anh Đặng Đình L1 10.208.904 đồng; anh Trần Văn C1 84.356.164 đồng; anh Đặng Mạnh L2 19.328.768 đồng.
Buộc 03 người vay chưa trả lại tiền gốc nộp lại số tiền vay để sung Ngân sách nhà nước, cụ thể: anh Nguyễn Văn H1 30.000.000 đồng; anh Trần Văn C1 50.000.000 đồng; anh Đặng Mạnh L2 20.000.000 đồng.
Xác nhận Trương Vinh Q đã nộp 188.999.315 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001339 ngày 07/8/2024; 150.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001341 ngày 08/8/2024 và 200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001340 ngày 07/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trương Vinh Q, Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 113/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 113/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRUONG VINH Q VS DP PHAM TOI CHO VAY LAI NANG TRONG GIAO DICH DAN SU
