TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày 26 - 11 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhung và ông Đường Ngọc Đại.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P; Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc C (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 5 năm 1973; Nơi sinh: Xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết); có vợ là: Lưu Thị N và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
Ngày 29 tháng 5 năm 2001, bị cáo bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp phạt ngày 22 tháng 6 năm 2001, (đã được xóa).
Tại Bản án số 68/2020/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 27 tháng 9 năm 2021, (đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 7 năm 2024 đến nay, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc C là người nghiện ma túy từ năm 2010. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19 tháng 7 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên C đã thuê xe ôm của 01 người đàn ông không quen biết đi từ thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội đến khu vực thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy H sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực gần cầu vượt P thuộc tổ dân phố X, phường P, thành phố P thì C xuống xe, trả tiền xe ôm. Tại đây, C gặp và mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không rõ danh tính, địa chỉ với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cầm gói ma túy đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực chợ X, thuộc tổ dân phố X, phường P, thành phố P thì bị lực lượng Công an phường P, thành phố P kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang C đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
Thu giữ tại tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Ngọc C 01 gói giấy bạc màu nâu, bên trong có chứa các cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số: 2113/KL-KTHS ngày 23 tháng 7 năm 2024, của Phòng K - Công an tỉnh V đã kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,2148g (Không phảy hai một bốn tám gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine (H)”.
Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = 0,1351 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh V.
Tại bản Kết luận giám định số 2140/KLGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Ngọc C – SN: 1973, trú tại: xã V, huyện M, thành phố Hà Nội đến giám định”. Cơ quan giám định hoàn lại: Không (mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSPY ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C từ 01 năm 07 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như sau: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại khu vực thuộc địa phận tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Nguyễn Ngọc C đang có hành vi cất giấu 01 gói ma túy (Heroine) tại lòng bàn tay phải có khối lượng 0,2148 gam, mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Công an phường P, thành phố P phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng Heroine của Phòng K - Công an tỉnh V,...Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine, C1, methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người nghiện ma túy đã từng bị xử phạt hành chính và kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học, ngang nhiên mua ma túy (Heroine) với mục đích sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Đặc biệt hiện nay tệ nạn ma túy trong cả nước nói chung cũng như ở địa bàn thành phố P diễn
biến ngày càng phức tạp gây nhiều hậu quả xấu, tác động trực tiếp vào từng cá nhân, từng gia đình và toàn xã hội. Tệ nạn ma túy kéo theo một loạt các tội phạm như: Trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản... và rất nhiều các loại bệnh tật nguy hiểm, trong đó có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Ngọc C trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, năm 2001 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; năm 2020 bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội kết án 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ là bà Lê Thị T là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với người đàn ông đã đã bán ma túy cho C tại khu vực gần cầu vượt P thuộc tổ dân phố X, phường P, thành phố P, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc C làm nghề tự do không có thu nhập, tài sản do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1351 gam mẫu ma túy và toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc C 01 (Một) năm 07 (B) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19 tháng 7 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 0,1351 gam mẫu ma túy cùng toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 12 lập ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
| Phan Thị Nhung | Lê Anh Vũ |
| Đường Ngọc Đại |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Vũ |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cáo Nguyễn Ngọc Chiến phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
