Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MỸ

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhiên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Trịnh Ngọc Tuấn;
    2. Ông Nguyễn Văn Thanh.
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa:
  • Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Đặng Tuấn K, sinh năm 1990; Sinh, trú quán: Tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Đặng Văn T, sinh năm 1959 và bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1963; vợ: Chảo Tả M, sinh năm 2002; có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Những người làm chứng:

    • Anh Đỗ Văn T1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Q1 – Bộ C. Vắng mặt

  • Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam T8 – Bộ C. Vắng mặt

  • Chị La Thị Thảo T2, sinh năm 2005; Địa chỉ: Bản T, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • Chị Dương Thúy H, sinh năm 2004; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, Thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt

  • Chị Lương Thu T3, sinh năm 2002; Địa chỉ: Bản S, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • Anh Trần Xuân T4, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Tuấn K và Đỗ Văn T1 có quen biết nhau từ trước vì T1 là người chuyên cung cấp nhân viên nữ phục vụ rót bia cho khách nam giới đến hát có nhu cầu tại các quán Karaoke khu vực Phố N, T1 cũng hay đưa nhân viên đến quán K2 do K là người quản lý. T1 thuê nhà 3 tầng của ông Vũ Ngọc T5 ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để ở cùng với Nguyễn Văn N, Nguyễn Đức H1, và các nhân viên nữ là La Thị Thảo T2; Dương Thúy H; Lương Thu T3 và Lò Thị H2. T1 sử dụng 2 phòng riêng biệt trên tầng 2 làm phòng ngủ. T1 và H1 quản lý các nhân viên nữ (T2, T3, H2, H) làm dịch vụ rót bia tại các quán Karaok trên địa bàn huyện, H1 là người đưa đón nhân viên nữ tới các quán Karaoke khi khách có nhu cầu.

Tối ngày 01/01/2024, T1 cùng với bạn là Trần Xuân T4 đi chơi tại thành phố Hà Nội, sau đó cả hai đi taxi về nhà trọ của T1. Cũng trong lúc này, có Nguyễn Văn B là bạn của T1 đến nhà trọ của T1 chơi và ngủ tại đó. Khi T1 và T4 về đến nhà trọ thì thấy B, T2, H, T3 đang ở trong gian phòng ngủ phía trước. H1, H2, N đang ngủ ở gian phòng ngủ phía sau. T1 đưa T4 vào gian phòng ngủ phía trước, mượn điện thoại 12 Promax màu vàng của H kết nối với loa B2 nhãn hiệu F&D cùng đèn nháy của T1 mua từ trước để nghe nhạc. Sau đó một mình T1 sang phòng H1 đang ngủ, tự ý lấy điện thoại 12 Promax màu xám của H1 vào ứng dụng messenger đang ở trạng thái đăng nhập tài khoản của H1 là “Nguyễn Đức H1” để nhắn tin, gọi điện đến tài khoản messenger “Kiên Bổng” của Đặng Tuấn K để nhờ K mua hộ 2 viên ma túy tổng hợp (dạng kẹo) và 2 chỉ ma túy Ketamine, K đồng ý và thông báo số tiền mua ma túy là 2.800.000 đồng. Khoảng 3 giờ ngày 02/01/2024, K mang ma túy đến và đưa cho T1 02 túi nilon màu trắng, trong đó có 1 túi nilon có nẹp cài viền màu đỏ kích thước (3x3,5)cm, bên trong chứa 2 viên ma túy kẹo hình vuông, màu xám, 1 túi nilon kích thước (7,5x5,5)cm bên trong chứa 2 chỉ ma túy Ketamine tại hành lang bên ngoài phòng ngủ của T1, sau đó K cung cấp số tài khoản cho T1, do không có tiền, T1 đã hỏi vay Trần Xuân T4 số tiền 2.800.000 đồng và nói để chuyển trả cho bạn, T1 không nói cho T4 biết vay để trả tiền mua ma túy của K, T4 đồng ý. T1 cung cấp số tài khoản 88100319909999 của Đặng Tuấn K mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q2 (M2) và bảo Toàn chuyển khoản. T4 sử dụng tài khoản số 1263335594 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 của T4 chuyển khoản đến số tài khoản mà T1 đưa số tiền 2.800.000 đồng. Lấy tiền xong K đi vào nhà vệ sinh. Sau khi nhận được ma túy từ K, T1 gọi N chuẩn bị đĩa để xào K1 cho mọi người sử dụng, N lấy đĩa và sử dụng máy sấy tóc nhãn hiệu PHILIPS khò mặt đĩa cho khô, để xào ma túy Ke. N sang phòng H2 và H1 hỏi mượn thẻ nhựa (N không nói mục đích mượn để làm dụng cụ sử dụng ma túy). H2 nói với N “em có cái thẻ ngân hàng không sử dụng đến vứt ở đầu giường ấy”, N tự đi tìm thẻ ngân hàng của H2 rồi mang đưa cho T1. Còn T1 cuộn tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng thành ống hút, nhặt 3 vỏ tóp thuốc lá để cố định ống hút và kẻ sẵn các đường ma túy Ke trên đĩa sứ để 2 viên ma túy kẹo trên đệm tại vị trí mọi người ngồi.

Sau khi đi vệ sinh ra K thấy T1 bưng đĩa ma túy K1 và mời K sử dụng, K hít 2 đường ma túy Ke qua đường mũi vào cơ thể rồi đứng dậy đi về. Sau khi K sử dụng xong đi về thì T1 tiếp tục kẻ các đường Ke và lần lượt mời T4, B, H và T3 sử dụng ma túy. H thấy túi ma túy Kẹo ở dưới đệm thì tự lấy dùng tay bẻ làm đôi và sử dụng nửa viên ma túy kẹo bằng cách cho vào miệng nuốt, nửa viên còn lại H để vào túi nilon dưới đệm. T4 tự mình lấy nửa viên ma túy kẹo H để lại trên đệm cho vào miệng nuốt. N sau khi chuẩn bị đĩa và thẻ nhựa cho T1 thì đi mua nước về cho mọi người uống trong quá trình sử dụng ma túy. Về đến nhà trọ thấy dưới đệm còn 1 viên ma túy Kẹo, N bẻ một nửa viên cho vào miệng nuốt, nửa viên còn lại N để dưới đệm, sau đó thì Thiên tự lấy sử dụng nốt bằng cách nuốt. N tự bưng đĩa ma túy Ke, hít qua đường mũi rồi đi ngủ. Sau đó T1 kẻ thêm 2 đường Ke rồi đưa đĩa ma túy mời T2 sử dụng. Cùng thời gian này T1 lấy điện thoại di động của T2 để kết nối với loa nghe nhạc (thay điện thoại di động của H, T1 đã bật nhạc nghe trước đó) và T1 sử dụng điện thoại Nokia 6700 của T1 gọi điện cho bạn gái là Bùi Thị Thu Q, sinh năm 2001 trú tại xóm T, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến nhà trọ của T1 chơi và sử dụng ma túy. Khoảng gần 5 giờ cùng ngày Q bắt xe taxi đến phòng trọ của T1, T1 mời Q sử dụng ma túy Ke. Nguyễn Đức H1 và Lò Thị Hồng N1 ở phòng ngủ phía sau, không tham gia sử dụng ma túy. Đến 05 giờ 30 phút cùng ngày thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, phát hiện lập biên bản vụ việc thu giữ tại nơi các đối tượng sử dụng ma túy: 01 túi nilon trắng viền màu đỏ kích thước (3x2,5)cm bên trong bám dính tinh thể màu trắng, 01 túi nilon trắng kích thước (7,5x5,5)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1); 01 đĩa sứ, trên mặt đĩa có chứa chất tinh thể màu trắng, 01 thẻ ATM của ngân hàng TMCP Q2 (M2) kích thước (8,5x5,5)cm, 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng được cuốn thành ống hình trụ tròn có đường kính miệng ống 0,5cm, chiều dài 13,5cm được định vị bằng 3 vỏ tóp thuốc lá (niêm phong ký hiệu M2); 01 loa màu trắng đen nhãn hiệu F&D; 01 đèn nháy màu trắng nhãn hiệu ROHS; 1 điện thoại di động N2 6700 màu trắng, đen; 1 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh.

Ngày 02/01/2024, Đặng Tuấn K biết T1 và N bị bắt giữ về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đồng thời ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn N thu giữ tại nền phòng ngủ tầng 2 phía trước 01 túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước (6x4)cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng; 1 túi nilon màu trắng, viền đỏ kích thước (3,5x2,5)cm bên trong bám dính tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền xanh kích thước (3,5x3)cm bên trong bám dính chất bột màu xám đen (niêm phong ký hiệu K1); 01 máy sấy tóc màu đen PHILIPS và 01 bật lửa gas màu đỏ.

Bản kết luận giám định 142/TB-KTHS (MT) ngày 05/01/2024 của Phòng K3, Công an tỉnh H, kết luận.

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, bám dính trong 01 túi nilon, trong niêm phong ghi ký hiệu M1, không xác định được khối lượng, là ma túy loại Ketamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, trong 01 túi nilon, trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là 1,430g, là ma túy loại Ketamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trên 01 đĩa sứ, trong niêm phong ghi ký hiệu M2, có khối lượng là 0,683g, là ma túy loại Ketamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, bám dính trong 01 thẻ cứng và bên trong ống hút, trong niêm phong ghi ký hiệu M2, không xác định được khối lượng, là ma túy loại Ketamine.

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, bám dính trong 02 túi nilon, trong niêm phong ghi ký hiệu K1, không xác định được khối lượng, là ma túy loại Ketamine, MDMA.

Mẫu chất dạng bột xám màu đen bám dính trong 01 túi nilon, trong niêm phong ghi ký hiệu K1, không xác định được khối lượng, là ma túy loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 02/01/2024, xác định: Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn N, Trần Văn T6, Nguyễn Văn B, Dương Thúy H, La Thị Thảo T2, Bùi Thị Thu Q dương tính với ma túy MDMA, MET, KET; Lương Thu T3 dương tính với ma túy KET; Nguyễn Đức H1 và Lò Thị Hồng âm T7 với ma túy.

Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Tuấn K về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do K bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 26/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã quyết định truy nã đối với K.

Ngày 29/7/2024, Đặng Tuấn K đã đến Công an xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên xin đầu thú và khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình như trên.

Kết quả test ma túy ngày 29/7/2024, K âm tính với các chất ma túy.

Ngày 05/9/2024, Khám xét nơi ở của K không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp và bán kiếm lời nên khoảng cuối tháng 12/2023, K đã liên hệ qua ứng dụng messenger từ tài khoản “Kiên B1” đến tài khoản thanh niên tên V ở Sơn La (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể), đang thuê trọ khu vực Bần Y, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để mua 02 viên ma túy kẹo và 02 chỉ ma túy Ketamine với giá 2.600.000 đồng. Khi chưa sử dụng số ma túy nêu trên, ngày 02/01/2024 K đã bán số ma túy này cho T1 với số tiền 2.800.000 đồng. Do K bán ma túy cho T1 với mục đích kiếm lời và khi bán không biết rõ mục đích của T1 là tổ chức cho người khác sử dụng ma túy nên ngày 06/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Tuấn K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đối với điện thoại để liên lạc với V và T1, K làm rơi mất và không nhớ mật khẩu đăng nhập vào tài khoản messenger nên không có cơ sở xác định được đối tượng tên V để xử lý.

Kết quả điều tra không đủ chứng cứ chứng minh Trần Xuân T4 khi chuyển khoản 2.800.000 đồng cho Đặng Tuấn K là để mua ma tuý; Lò Thị H2 cho N mượn thẻ ngân hàng (M2) nhưng không biết N sử dụng làm công cụ để sử dụng ma túy; Nguyễn Đức H1 không biết Đỗ Văn T1 sử dụng điện thoại và tài khoản messenger của H1 để liên lạc với Đặng Tuấn K mua ma túy, nên không có căn cứ để xử lý đối với các hành vi này.

Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn N đã bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xét xử tại bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/6/2024.

Vật chứng, đồ vật của vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xử lý trong bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 đối với Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn N về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với số tiền 2.800.000 đồng T1 trả cho K để mua ma túy và chiếc điện thoại di động K sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, K khai quá trình bỏ trốn K đã tiêu xài cá nhân hết và bị rơi mất. Cơ quan điều tra không quản lý thu giữ được.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Tuấn K, ngày 09/9/2024, Công an huyện Y đã xử phạt vi phạm hành chính mức phạt tiền 1.500.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Đặng Tuấn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn, hối cải.

Tại Cáo trạng số 115/CT-VKS-YM, ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Đặng Tuấn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKS huyện Y giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Đặng Tuấn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024. Ngoài ra đại diện VKS còn có quan điểm về vật chứng và án phí.

Bị cáo không tranh luận gì, tại lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn về hành vi mà mình đã thực hiện mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa những người làm chứng vắng mặt, bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt những người này. HĐXX thấy người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, quá trình điều tra đã có lời khai của họ nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vắng mặt những người làm chứng.

[2]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai, biên bản hỏi cung bị can, bị cáo đều khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp và bán kiếm lời nên khoảng cuối tháng 12/2023, K đã liên hệ qua ứng dụng messenger từ tài khoản “Kiên B1” đến tài khoản thanh niên tên V ở Sơn La (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể), đang thuê trọ khu vực Bần Y, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để mua 02 viên ma túy kẹo và 02 chỉ ma túy Ketamine với giá 2.600.000 đồng. Khi chưa sử dụng số ma túy nêu trên, ngày 02/01/2024 K đã bán số ma túy này cho T1 với số tiền 2.800.000 đồng. Do K bán ma túy cho T1 với mục đích kiếm lời và khi bán không biết rõ mục đích của T1 là tổ chức cho người khác sử dụng ma túy, lời khai trên của bị cáo phù hợp với lời khai của Đỗ Văn T1 (BL108-109) “T1 nhờ K mua ma túy nhưng không nói cho K biết mục đích để làm gì... K không biết T1 tổ chức cho những người khác sử dụng ma túy”, phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn N và những người làm chứng khác, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 02/01/2024, tại nhà trọ của Đỗ Văn T1 ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Đặng Tuấn K đã bán cho Đỗ Văn T1 2 viên kẹo là ma túy tổng hợp (thành phần gồm MDMA, Ketamine và M1) và 02 chỉ K1 (ma túy Ketamine) với số tiền 2.800.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì ham lợi nhuận, bị cáo bất chấp mọi hậu quả xảy ra. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, HĐXX. chấp nhận lời buộc tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ đối với bị cáo, nên bản cáo trạng số 115/CT-VKS-YM, ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo có bố là đẻ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H tặng bằng khen, gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây ra sự bức xúc trong nhân dân và chính quyền địa phương, làm mất an ninh trật tự nông thôn, từ hành vi của bị cáo là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm, nên cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cơ quan chức năng cải tạo, giáo dục bị cáo, thì mới có đủ điều kiện để bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản tích lũy, do vậy, HĐXX. không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về biện pháp tư pháp:

Đối với điện thoại để liên lạc với V và T1, K làm rơi mất và không nhớ mật khẩu đăng nhập vào tài khoản messenger nên không có cơ sở xác định được đối tượng tên V để xử lý.

Kết quả điều tra không đủ chứng cứ chứng minh Trần Xuân T4 khi chuyển khoản 2.800.000 đồng cho Đặng Tuấn K là để mua ma tuý; Lò Thị H2 cho N mượn thẻ ngân hàng (M2) nhưng không biết N sử dụng làm công cụ để sử dụng ma túy; Nguyễn Đức H1 không biết Đỗ Văn T1 sử dụng điện thoại và tài khoản messenger của H1 để liên lạc với Đặng Tuấn K mua ma túy, nên không có căn cứ để xử lý đối với các hành vi này.

Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn N đã bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xét xử tại bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/6/2024.

Vật chứng, đồ vật của vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xử lý trong bản án số 72/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 đối với Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn N về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với số tiền 2.800.000 đồng T1 trả cho K để mua ma túy, trong đó có 2.600.000 đồng là tiền của K bỏ ra mua ma túy để bán cho T1 và 200.000 đồng tiền lãi từ việc bán ma túy cho T1, K khai quá trình bỏ trốn K đã tiêu xài cá nhân hết Cơ quan điều tra không quản lý thu giữ được nên không xử lý gì đối với số tiền 2.600.000 đồng còn đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo thu lợi từ việc bán ma túy cho T1 mà có nên cần truy thu nộp Ngân sách nhà nước.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Tuấn K, ngày 09/9/2024, Công an huyện Y đã xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

[6]. Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 38 Bộ luật hình sự;

  2. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Tuấn K phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

  3. Xử phạt: Bị cáo Đặng Tuấn K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024

  4. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Đặng Tuấn K số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng nộp Ngân sách nhà nước.

  5. Về án phí: Bị cáo Đặng Tuấn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Nhiên

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ;
  • - Công an huyện Yên Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Mỹ;
  • - UBND P. Bần Yên Nhân, TX Mỹ Hào;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Tuấn K phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger