BẢN ÁN SƠ THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ——— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án: 113/2024/HS-ST Ngày: 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầm Tuấn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trọng Định
Ông Nguyễn Kiên Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện VKSND Quận 3, Tp. tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị N – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Kim C, sinh năm 1953; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 5 T, (số cũ 5 Trần Hưng Đạo B), Phường A, Quận E, TP . Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không ; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); chồng,con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/02/2024 đến ngày 04/3/2024 chuyển sang tạm giam tại Trại tạm giam C Công an Thành phố H.; (bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần M được Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần S (Mã số doanh nghiệp C1) đăng ký lần đầu ngày 03/4/2000, địa chỉ trụ sở chính tại 8 C, Phường V, Quận C và do ông Lâm Kim K là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Trong đó, có sự đan xen về sở hữu đối với 89.709 cổ phần của Công ty. Cổ đông lớn nhất và giữ vai trò cổ đông chi phối tại Công ty là Cổ đông Nhà nước với số cổ phần 31.398 cổ phần, tương đương 35%. Các cổ đông lớn xếp thứ 2, 3, 4 lần lượt là Công ty Cổ phần C2 (8971 cổ phần, tương đương 10%),
Ngân hàng TMCP Á (8.971 cổ phần, tương đương 10%), Ngân hàng N1 (nay là Ngân hàng N1; 5.650 cổ phần, xấp xỉ 6,298%).
Ngày 07/02/1998, Công ty Cổ phần M bổ nhiệm Trần Kim C là nhân viên thủ quỹ của Công ty theo quyết định số 19 ngày 07/02/1998. Công việc hàng ngày của C là thu tiền buôn bán mắt kính tại 03 cơ sở gồm số I C, số D P, Phường F, Quận C và số 535-537 Trần Hưng Đạo B, Phường A, Quận E. Về quy trình làm việc giữa thủ quỹ và kế toán thanh toán như sau: Hàng ngày, thủ quỹ sẽ đi thu tiền của 2 cửa hàng (riêng cửa hàng Trần Hưng Đ tự đến Công ty nộp tiền cho C) có chữ ký của cửa hàng và chữ ký của C rồi giao lại cho kế toán thanh toán là Nguyễn Thị Đ1. Chị Đ1 căn cứ hóa đơn thu tiền để làm phiếu thu trình cho kế toán trưởng và Tổng giám đốc ký rồi giao lại cho C để C vào sổ và cất tiền vào quỹ. Về chi tiền gồm các khoản nộp vào tài khoản ngân hàng, chi trả cho Công ty A và An Thái B, trả lương cho công nhân. Chị Đ1 căn cứ vào chứng từ gốc đã có chữ ký phê duyệt của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và các trưởng phòng để làm phiếu chi trình cho kế toán trưởng và tổng giám đốc rồi giao lại cho thủ quỹ chi và ký xác nhận. Riêng nộp tiền vào ngân hàng và kho bạc, Đ1 căn cứ tồn quỹ trên sổ sách nếu thấy đủ số tiền thì báo Tổng giám đốc hoặc kế toán trưởng sau đó cùng thủ quỹ kê tiền mặt và cùng đi nộp tiền rồi Đ1 cầm chứng từ nộp tiền về làm phiếu chi trình cho Tổng giám đốc và kế toán trưởng ký. Về quy trình kiểm quỹ: Vào ngày 01 của mỗi tháng sau khi thủ quỹ thu tiền của 3 cửa hàng, kế toán trưởng và đại diện ban kiểm soát, đại diện công đoàn cùng thủ quỹ và kế toán thanh toán tiến hành kiểm tra quỹ Công ty và quỹ Công đoàn của Công ty. Tiến hành kiểm đếm tiền theo số thực tế và đối chiếu số sổ sách của kế toán thanh toán (vì thủ quỹ chưa làm xong sổ sách) để xác định tạm thời số thừa thiếu, qua ngày hôm sau kế toán thanh toán và thủ quỹ đối chiếu sổ sách xác định số thừa thiếu và cùng ký xác nhận trong biên bản kiểm quỹ.
Vào ngày 30/03/2004, chị Đ1 hẹn C đến ngân hàng nộp tiền (nộp theo quý) nhưng không thấy C đến làm việc nên nhờ người đến nhà riêng của C tìm hiểu thì được gia đình của C cho biết C đã đi chùa C3. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 31/7/2004, chị Đ1 vẫn chưa thấy C vào làm việc và thấy có biểu hiện bất thường nên báo cho ông Lâm Kim K là Tổng Giám đốc biết. Sau đó, ông K thành lập đoàn kiểm tra quỹ thì đến 08 giờ 15 phút ngày 31/03/2004, C đến Công ty làm việc. Quá trình kiểm tra quỹ và lập biên bản đối chiếu sổ sách với thực tế quỹ tiền mặt, phát hiện bị thâm hụt số tiền 116.399.492 đồng. Qua làm việc, C thừa nhận lợi dụng sơ hở của ban kiểm quỹ (chỉ kiểm quỹ của Công ty và quỹ Công đoàn), C đã tự ý lấy tiền doanh thu của các cửa hàng bán lẻ mắt kính do Công ty G cho C quản lý để tiêu xài cá nhân, làm thất thoát quỹ tiền mặt, khi kiểm tra quỹ, C đã lấy các khoản tiền từ thuế thu nhập cá nhân, lãi cổ tức để bù vào khoản quỹ thâm hụt. Do đó, ngày 19/7/2004, Công ty Cổ phần M có công văn trình báo sự việc gửi đến Công an Q.
Ngày 13/10/2004, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự đến ngày 05/01/2005 ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Kim C về tội “Tham ô tài sản”. Do sau khi thực hiện hành vi phạm tội C đã bỏ trốn nên ngày 07/02/2005, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã, khi hết thời hạn điều tra thì ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Quyết
định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với C. Ngày 28/02/2024, C bị bắt theo quyết định truy nã.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Trần Kim C khai nhận khi được bổ nhiệm làm thủ quỹ của Công ty Cổ phần M, C được giữ tất cả 04 khoản tiền (tiền công đoàn, tiền thuế của công nhân, tiền cổ phần của cổ đông, tiền bán hàng). Việc thất thoát xảy ra từ khoảng cuối năm 1999, do C lấy tiền chi tiêu cho gia đình như mua sắm đồ dùng trong gia đình, mỗi lần từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng dẫn đến số tiền thâm hụt ngày càng lớn. Hàng tháng công ty đều có kiểm tra số tiền trong quỹ, trước khi kiểm tra do chị Đ1 có báo trước để chuẩn bị và do sợ bị đuổi việc nên C lấy các khoản tiền như quỹ công đoàn, tiền thuế thu nhập cá nhân của công nhân và tiền cổ phần của cổ đông bù vào số tiền bị thiếu hụt để không bị phát hiện. Ngày 05/4/2004, C đã tự nguyện nộp khắc phục số tiền 35.514.000 đồng. Sau đó, do không có tiền trả cho Công ty và sợ bị bắt nên C bỏ trốn và sinh sống nhiều nơi khác khai đến ngày 28/02/2024 thì bị Công an bắt theo Quyết định truy nã. Lời khai của C phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập.
Ngày 15/4/2024, Công ty Cổ phần M có Công văn số 07/2024/MKSG đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xử lý việc số tiền quỹ bị thất thoát theo quy định của pháp luật.
Đồ vật, tài liệu thu giữ: (kèm theo hồ sơ vụ án)
- 01 biên bản đối chiếu sổ sách với thực tế quỹ tiền mặt (bản gốc);
- 01 quy trình làm việc giữa kế toán thanh toán và thủ quỹ (bản gốc);
- 08 danh sách lãnh tiền lãi (bản phô tô);
- 01 lý lịch cán bộ công nhân viên và 01 lý lịch cán bộ công chức của Trần Kim C (bản gốc) và 01 quyết định bổ nhiệm Trần Kim C (bản sao y).
01 văn bản số 65/MK-2004 ngày 19/7/2004 của Công ty Cổ phần M thể hiện Trần Kim C đã khắc phục số tiền 35.514.000 đồng cho Công ty.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Công ty Cổ phần M yêu cầu C khắc phục số tiền còn lại là 80.885.492 đồng.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKS-HS ngày 07/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Trần Kim Chi về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay :
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; Điều 38; Điều 50; Điều 54; điểm b,o,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Kim C từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu)
năm tù giam; lưu giữ đồ vật tài liệu theo hồ sơ vụ án; trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty Cổ phần M số tiền còn lại là 80.885.492 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, Luật sư bào chữa cho bị cáo P cũng không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, là phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp nội dung các lời khai của nguyên đơn dân sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Vì vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Ngày 07/02/1998, Công ty Cổ phần M bổ nhiệm Trần Kim C là nhân viên thủ quỹ của Công ty theo quyết định số 19 ngày 07/02/1998. Công việc hàng ngày của C là thu tiền buôn bán mắt kính tại 03 cơ sở gồm số I C, số D P, Phường F, Quận C và số 535-537 Trần Hưng Đạo B, Phường A, Quận E. Do ý thức coi thường pháp luật, lợi dụng quyền hạn được giao làm thủ quỹ nên bị cáo Trần Kim C đã thực hiện với lỗi cố ý. Ngày 31/3/2004, qua công tác kiểm tra, đối chiếu sổ sách quỹ tiền mặt tại Công ty cổ phần M số 8 C, Phường F (nay là phường V), Quận C phát hiện trong thời gian Trần Kim C làm thủ quỹ, được giao nhiệm vụ giữ tiền công đoàn, tiền thuế của công nhân, tiền cổ phần của cổ đông, tiền bán hàng của cửa hàng thuộc Công ty cổ phần M, đã tự ý lấy tiền doanh thu của Công ty từ 03 cửa hàng bán lẻ mắt kính với tổng số tiền là 116.399.492 đồng để chi tiêu cá nhân. Do bị thâm hụt số tiền quỹ, C đã lấy tiền thuế thu nhập cá nhân của công nhân, tiền công đoàn và lợi tức cổ đông bù vào phần tiền đã chiếm đoạt để che đậy hành vi chiếm đoạt tài sản qua mỗi kỳ báo cáo kiểm kê quỹ hàng tháng. Hành vi của bị can là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp, làm mất uy tín của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc bằng biện pháp hình sự.
Do đó, Cáo trạng 111/CT-VKS-HS ngày 07/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Trần Kim C về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng do động cơ tham lam ích kỷ và xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân nhưng không chịu lao động nên dẫn đến việc bị cáo phạm tội. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được
pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tuy nhiên cũng xét, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối lỗi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; gia đình bị cáo đã bồi thường, khắc phục một phần hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[5] Từ những cơ sở trên, nghĩ cần căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt, Điều 38 Bộ luật Hình sự quy định về tù có thời hạn; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự quy định về khung hình phạt áp dụng; áp dụng điểm b,o,s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.
[6] Về xử lý Đồ vật, tài liệu thu giữ: (kèm theo hồ sơ vụ án) 01 biên bản đối chiếu sổ sách với thực tế quỹ tiền mặt (bản gốc); 01 quy trình làm việc giữa kế toán thanh toán và thủ quỹ (bản gốc); 08 danh sách lãnh tiền lãi (bản phô tô); 01 lý lịch cán bộ công nhân viên và 01 lý lịch cán bộ công chức của Trần Kim C (bản gốc) và 01 quyết định bổ nhiệm Trần Kim C (bản sao y); 01 văn bản số 65/MK-2004 ngày 19/7/2004 của Công ty Cổ phần M thể hiện Trần Kim C đã khắc phục số tiền 35.514.000 đồng cho Công ty nghĩ nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[7] Trách nhiệm dân sự: Đại diện Công ty Cổ phần M yêu cầu C khắc phục số tiền còn lại là 80.885.492 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường cho Công ty Cổ phần M.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nghĩ nên chấp nhận.
[9] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Kim C đã phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b,o,s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với Trần Kim C
Xử phạt: Trần Kim C 05 (năm) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 80.885.492 đồng (tám mươi triệu tám trăm tám mươi lăm ngàn bốn trăm chín mươi hai đồng) cho Công ty Cổ phần M.
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 biên bản đối chiếu sổ sách với thực tế quỹ tiền mặt (bản gốc); 01 quy trình làm việc giữa kế toán thanh toán và thủ quỹ (bản gốc); 08 danh sách lãnh tiền lãi (bản phô tô); 01 lý lịch cán bộ công nhân viên và 01 lý lịch cán bộ công chức của Trần Kim C (bản gốc) và 01 quyết định bổ nhiệm Trần Kim C (bản sao y); 01 văn bản số 65/MK-2004 ngày 19/7/2004 của Công ty Cổ phần M thể hiện Trần Kim C đã khắc phục số tiền 35.514.000 đồng cho Công ty Cổ phần M.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Trần Kim C.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận :
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầm Tuấn Kiệt |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham Ô
