Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:113/2024/HS-ST

Ngày 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng
  2. Bà Cao Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Toan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Việt Đ, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1989, tại huyện V, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố (viết tắt là TDP) H, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1966. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Phạm Thị P; chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07-5-2024, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bà H:

  1. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1962 (là chồng bà H) - vắng mặt
  2. Anh Lê Xuân H2, sinh năm 1988 (là con bà H) - vắng mặt
  3. Chị Lê Thị T, sinh năm 1991(là con bà H) -vắng mặt

Đều cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  1. Chị Lê Thị Thu H3, sinh năm 1986 (là con bà H); Nơi cư trú: C, B, thành phố Hà Nội - vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của anh H2, chị H3 và chị T: Ông Lê Văn

H1, sinh năm 1962 (có mặt).

3. Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1965;
  2. Anh Tạ Quang M, sinh năm 1977;
  3. Anh Trần Mạnh T1, sinh năm 1976;

Đều cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 27-01-2024, Nguyễn Việt Đ (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô Honda, nhãn hiệu Airblade, sơn màu xanh xám đen, biển số đăng ký: 17B2-614.36 của Đ đi từ tỉnh Vĩnh Phúc, về nhà ở thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô đi từ xã Đ về xã M, khi đi đến ngã ba giao cắt giữa đường ĐT453 với đường trục thôn T, xã M (K+600 đường ĐT453) thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình, có biển cảnh báo nguy hiểm “giao nhau với đường không ưu tiên” Đ đã không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần đầu xe phía bên trái của xe mô tô do Đ điều khiển đã va chạm với giá để chân phía sau bên phải xe đạp do bà Lê Thị Hồng điều K1 chuyển hướng từ lề đường bên trái sang bên phải phía trước cùng chiều đi của xe mô tô. Hậu quả: bà Lê Thị H bị tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông gây ra là 78%; Đ bị xây xát nhẹ; hai phương tiện bị hư hỏng.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199/KLTTCT-TTPY ngày 24/4/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y đối với bà Lê Thị H, nội dung: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 78%. Cơ chế hình thành thương tích:Chấn thương sọ não, gãy cung tiếp gò má phải, gãy thành ngoài hốc mắt phải, gãy đầu ngoài xương đòn phải: Do va đập với vật tầy gây nên; Sẹo mổ vùng thái dương, vết mở khí quản và ổ khuyết sọ: Do can thiệp y tế; Các thương tích vùng thái dương phải có vết thương đang liền sẹo, vùng chẩm có vết sẹo, vùng chẩm có vết thương đang liền sẹo và 04 vết sẹo vùng ngực trái: Do va đập và trà sát với vật tầy cứng gây nên; Thương tích vùng mông phải có vết loét: Do tỳ đè gây nên”.

Tại công văn số 209/CV-TTPY ngày 15/7/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y về việc làm rõ nội dung kết luận giám định đối với bà Lê Thị H, nội dung: “04 vết sẹo vùng ngực trái là cùng thời điểm với các thương tích xảy ra trong vụ tai nạn giao thông ngày 27/01/2024. Cơ chế hình thành 04 vết sẹo này là do va đập, trà sát với vật tầy cứng gây nên; Vết loét vùng mông phải xảy ra sau vụ tai nạn giao thông ngày 27/01/2024 do bệnh nhân nằm điều trị lâu ngày. Cơ chế hình thành vết loét vùng mông phải này là do tỳ đè gây nên”.

Bản cáo trạng số 108/CT-KSHH ngày 23-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Việt Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Việt Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo cùng gia đình bà H đưa bà H đi cứu chữa kịp thời, khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại số tiền 242.000.000 đồng để chữa bệnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo Nguyễn Việt Đ cho Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 242.000.000 đồng để chữa bệnh cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] ghi tên Nguyễn Việt Đ. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị

cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Việt Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản vụ việc hành chính và Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ do Đội cảnh sát giao thông, Công an huyện H lập ngày 27-01-2024; Biên bản xác định, đánh giá hiện trường và Biên bản xác định, đánh giá dấu vết phương tiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập ngày 13-3-2024; Biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh phương tiện do Đội cảnh sát giao thông, Công an huyện H lập ngày 29-01-2024; Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện do Đội cảnh sát giao thông Công an huyện H lập ngày 27-01-2024; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199/KLTTCT-TTPY ngày 24/4/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y; Công văn số 209/CV-TTPY ngày 15-7-2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y; Kết luận giám định số 378/KL-KTHS ngày 29-3-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T; Biên bản kiểm tra nồng độ cồn do Công an huyện H lập ngày 27-01-2024; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị X; anh Tạ Quang M và anh Trần Mạnh T1 cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 27-01-2024, tại ngã ba giao cắt giữa đường ĐT453 với đường trục thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (Km10+600 đường ĐT453) thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình, là đoạn đường có báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên bị cáo Nguyễn Việt Đ đã điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 17B2-614.36 đi theo hướng từ xã Đ về xã M, không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, va chạm với xe đạp do bà Lê Thị Hồng điều K1 chuyển hướng từ lề đường bên trái sang bên phải phía trước cùng chiều đi của xe mô tô. Hậu quả làm bà Lê Thị H bị tổn thương cơ thể 78%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Việt Đ đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ ; khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29-8-20019.

Đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

“1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.....”.

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo...”

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường,...”

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Việt Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo H4 thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Việt Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn, hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy bị cáo được áp

dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 242.000.000 đồng để chữa trị thương tích cho bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[7] Đối với hành vi điều khiển xe đạp khi sang đường của bà Lê Thị H chuyển hướng sang đường không đảm bảo an toàn nên xảy ra va chạm giao thông giữa bị cáo Đ và bà H có một phần lỗi của bà H. Tuy nhiên, bị cáo Đ chỉ xây xát ở vùng đầu gối bên phải, bị cáo Đ không yêu cầu giám định thương tích; xe mô tô của bị cáo Đ bị hư hỏng, phải sửa chữa tuy nhiên vết thương của bị cáo nhỏ và thiệt hại về tài sản không lớn, không đủ căn cứ khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà H, hình thức phạt tiền là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có quản lý 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh xám đen biển số đăng ký 17B2-614.36 ; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 17003101 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe máy biển số đăng ký 17B2-614.36 của Nguyễn Việt Đ; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] ghi tên Nguyễn Việt Đ; 01 xe đạp cào cào, sơn màu đỏ đen bạc, giỏ xe màu xám, có ghế ngồi trẻ em của bà Lê Thị H.

Quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh xám đen; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 17003101 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe máy biển số đăng ký 17B2-614.36 là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo và là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Đ nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Đ là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] ghi tên Nguyễn Việt Đ được lưu tại hồ sơ vụ án là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Đ nên cần trả lại cho bị cáo Đ.

Đối với 01 xe đạp cào cào, sơn màu đỏ đen bạc, giỏ xe màu xám, có ghế ngồi trẻ em thu của bà Lê Thị H, quá trình điều tra xác định đây là là tài sản hợp pháp của bà H nên cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên ông H1 là người đại diện hợp pháp của bà H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 242.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi hai triệu đồng) để chữa trị thương tích cho bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] ghi tên Nguyễn Việt Đ (lưu tại hồ sơ vụ án).
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Việt Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Việt Đ và ông Lê Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện

hợp pháp cho bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Việt Đức phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger