Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-PT

Ngày: 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/HSPT ngày 25/7/2024 đối với các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H và Võ Văn Đ do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại Lương Ngọc Ẩ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Bị cáo có kháng cáo:

1. Hồ Thanh P - Sinh năm: 1985 tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 5Ô1/43 khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn B - sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị M- sinh năm: 1960; có vợ Nguyễn Thị Thu T- sinh năm: 1990 và 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017). Bị cáo là con đầu trong gia đình có 4 anh em.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo P: Luật sư Nguyễn Văn C – Công ty L1 thuộc đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

2. Võ Văn H - sinh năm: 1987 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Nơi cư trú: tổ H ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ văn hóa 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn B1, sinh năm 1943 và bà Đặng Thị N, sinh năm: 1943; có vợ Trần Thị L - sinh năm: 1988 (đã ly hôn) và 03 con lớn nhất sinh năm 2008 nhỏ nhất sinh năm 2018; bị cáo là con út trong gia đình có 8 anh chị em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

3. Võ Văn Đ - sinh năm: 1979 tại Bà Rịa – Vũng Tàu

Nơi cư trú: Tổ A ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Chạy xe ba gác; Trình độ văn hóa 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn B1 – sinh năm 1943 và bà Đặng Thị N- sinh năm 1943; Vợ Hồ Thị Q- sinh năm 1986 (đã ly hôn) và 02 con chung (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2005); bị cáo là con thứ 6 trong gia đình có 8 anh chị em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại có kháng cáo: Ông Lương Ngọc Ầ (Tên gọi khác: Ốc)– sinh năm: 1983; Địa chỉ: B khu phố L, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lương Ngọc Á: Luật sư Đỗ Thành T1 - Công ty TNHH N1; địa chỉ : A N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 17/3/2023, do nghi ngờ Lương Ngọc Ẩ có quan hệ tình cảm bất chính với vợ Nguyễn Thị Thu T nên khi gặp được Võ Văn Đ đang ở gần chùa B4 đã nhờ Đ cùng P đi bắt Ấn đưa về Công an thị trấn P giải quyết, Đ đồng ý. Lúc này, theo thông tin từ người quen, P biết được Ầ đang uống cà phê tại quán A nên nói

Được điều khiển xe máy chở P đến đó. Đồng thời, trên đường đi, P cũng gọi điện thoại thêm cho Võ Văn H chạy đến để hỗ trợ và H cũng đồng ý.

Khi đến nơi, P và Đ ngồi ở bàn phía trước, sau khi kêu nước xong thì P liền đi bộ ra phía sau quán để tìm Ầ. Khi P nhìn thấy Ầ (đang ngồi uống nước với bà Hoàng Thị Kim T2 và bà Trần Thị B2) thì Ầ đứng lên bỏ chạy nhưng bị P ôm lại và cả hai giằng co trước nhà vệ sinh, tiếp đến P dùng tay trái kẹp cổ, tay phải đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt của Ẩ. Sau đó, Ầ bỏ chạy ra phía trước, P đuổi theo, khi chạy Ầ bị té sấp mặt về trước. Lúc này, Võ Văn H vừa đến, thấy P và Ầ đang giằng co, H đi đến nói “mày có gia đình mà còn dụ dỗ phá gia cang người ta” rồi H dùng tay phải tát 01 cái vào mặt Ẩ, P hỏi có dây trói Ẫ lại không, H nói ngoài xe có dây thun, H giữ Ấn lại rồi P ra ngoài lấy 01 dây thun màu xanh dương (dài khoảng 1,5m, hai đầu có gắn hai móc bằng kim loại) đem vào trói hai tay của Ầ ra phía sau rồi kéo Ầ ra ngoài vỉa hè bên hông quán.

Đối với Đ, trong lúc mọi người đánh nhau thì Đ ngồi trước quán và có điện thoại nên ra ngoài nghe. Khi quay lại, Đ đang đứng gần đó thì P nói với Đ “dây bị tuột, cậu 9 cột lại dùm con”, rồi P giữ đè người Ấn, H nắm tóc Ẩ để Đ dùng dây thun trói hai tay của Ầ lại rồi đưa lên xe mô tô biển số 72H1-07946 của H. P là người điều khiển, Ầ ngồi giữa (không đội mũ bảo hiểm), H ngồi sau cùng, cả ba chạy xe về hướng thị trấn P. Riêng Đ chạy xe một mình đi sau.

Trên đường đi, khi xe P đang lưu thông đến đèn xanh đèn đỏ xã P thì gặp xe ông Trương Tấn P1 (Anh rể Ẩ) phía sau chở theo người tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đuổi theo xe của P yêu cầu P dừng xe lại nhưng P không dừng nên P1 điều khiển xe chạy sát xe của P dẫn đến hai xe va chạm rồi cùng ngã xuống đường. Sau khi bị ngã, H, H1, P1 không bị thương tích, P bị sây sát da vùng gối phải, Ầ té ngửa ra đường trong tư thế hai tay bị trói sau lưng. Lúc này, Trương Văn T3 chở Lương Kim T4 vừa chạy đến. T3 và P xảy ra cãi nhau và T3 đã lấy từ trong người ra 01 dao thái lan dài 23,4cm rượt đuổi P, P bỏ chạy, T4 đến cởi trói cho Ầ rồi chở Â về nhà. Sau khi về nhà, Ầ bị ói và đau đầu nên người nhà đã đưa Ầ đi bệnh viện cấp cứu, đồng thời lên Cơ quan Công an trình báo.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y tổn thương cơ thể số 175/KLTTCT-PYBRVT ngày 15/5/2023, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận:

- Phần Giám định: Lương Ngọc Ẩ khi khám vùng đầu và trán bên trái không thấy thương tích bên ngoài (hình 1); bị sây sát da nông ở mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải, lành nhạt màu, kích thước 5cm x 4cm (hình 2, 3); CT scan sọ não (dựng 3D) hình ảnh giảm đậm độ dạng nhuyễn não cũ thuỳ trán trái. Nứt xương sọ từ lỗ chẩm đến xương chẩm phải dài # 185mm; Xquang vai phải thẳng, chếch, hình ảnh xương bả vai không thấy bất thường.

- Phần kết luận:

a. Các kết quả chính:

Kết quả khám giám định:

  • + 01 tổn thương da nông, lành mờ, không biến dạng vai.
  • + Chấn thương sọ não cũ, chưa rối loạn tâm thần kinh.

Kết quả cận lâm sàng:

  • + Tụ máu dưới màng cứng trán, thái dương trái đã điều trị không có di chứng thần kinh hiện còn giảm đậm độ dạng nhuyễn não.
  • + Dập não xuất huyết trán, thái dương trái. Xuất huyết dưới nhện trán trái đã điều trị không có di chứng thần kinh.
  • + Nứt xương sọ từ lỗ chẩm đến xương chẩm phải dài #185mm.
  • + Điện não đồ: Bình thường.

b. Về vật gây thương tích, cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích trên được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy. Thương tích vùng đầu: Lực tác động rất mạnh, tác động vào vùng chẩm theo chiều hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái. Thương tích vùng vai phải: Chiều hướng từ phải sang trái.

c. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Lương Ngọc Ẩ tại thời điểm giám định là 45%. (BL 95 đến 102).

* Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 251/KLTgTHS-PYBRVT ngày 03/7/2023, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận: Thương tích vùng đầu, chấn thương sọ não: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45%; Thương tích ở tay phải: Không có tỷ lệ tổn thương cơ thể.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 501/KLTgTHS-PYBRVT ngày 07/12/2023, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận: Tình trạng chấn thương sọ não của ông Lương Ngọc Ả khả năng được gây ra sau khi té ngã lúc di chuyển bằng xe mô tô theo cơ chế: Va đập vùng chẩm phải xuống nền cứng, tác động với lực rất mạnh vào vùng chẩm theo chiều hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y tổn thương cơ thể số 190/KLTTCT-PYBRVT ngày 25/5/2023, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận:

- Phần Giám định: Hồ Thanh P bị sây sát da không liên tục phía trước gối phải, không rõ hình dạng hình học, bờ không gọn, lành sậm màu, kích thước 7,5cm x 2,5cm, vận động khớp gối phải không hạn chế (Hình 2).

- Phần kết luận:

a. Các kết quả chính:

Kết quả khám giám định: 01 vết sây sát da gối phải, lành sậm màu.

Xét nghiệm rượu trong máu: 0,04g/l.

b. Về vật gây thương tích, cơ chế hình thành thương tích: Sây sát da không liên tục phía trước gối phải, không rõ hình dạng hình học, bờ không gọn, lành sậm màu, kích thước 7,5cm x 2,5cm, vận động khớp gối phải không hạn chế. Thương tích được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau.

c. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Hồ Thanh P tại thời điểm giám định là 01%.

*Vật chứng của vụ án gồm có:

  • Thu giữ của Trương Tấn P1 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 72H1- 06723 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe số 008149 (SK: 640CY890307, SM: 5C64-890342) mang tên Hoàng Thị H2.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh đen bạc biển số 72H1-41348 (SK: RLHJA3929NY148518, SM: JA39E2645495) cùng giấy chứng nhận đăng ký xe số 72006854 mang tên Võ Văn Đ.
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72H1-07946 (SK: C640CY986171, SM: 5C64-986184) cùng giấy chứng nhận đăng ký xe số 003644 mang tên Võ Văn H.
  • 01 sợi dây thun màu xanh dương, dài khoảng 1,5m, hai đầu có gắn hai móc bằng kim loại và 01 dao nhỏ dạng dao thái lan dài 23,4cm (cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại 11,9cm).

Đối với các vật chứng còn lại nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ lưu giữ chờ xử lý.

  • Đối với 01 đĩa DVD-R 4.7GB lưu trữ 06 video liên quan đến hành vi bắt người trái pháp luật tại quán A vào tối ngày 17/3/2023 và 01 thẻ nhớ micro SD 2.0 màu đỏ lưu giữ đoạn ghi âm của Ầ gửi cho vợ P, đây là các chứng cứ điện tử nên được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
  • Đối với 02 điện thoại của H và P, sau khi bị té xe vào đêm ngày 17/3/2023, khi về nhà P và H kiểm tra phát hiện điện thoại đã bị mất nên Công an không thu giữ được.

*Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lương Ngọc Ầ yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền là 1.363.495.366 đồng. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường được là 115.000.000đồng trong đó bị cáo P đã bồi thường 70.000.000đồng, Đ và H đã bồi thường mỗi người 22.500.000đồng. Bị hại Ầ đã nhận 100.000.000đồng và 15.000.000 đồng còn lại đang gửi giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Đất Đỏ.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 22/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

* Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H, Võ Văn Đ phạm tội “Bắt người trái pháp luật”

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hồ Thanh P 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Xử phạt: Võ Văn H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Xử phạt: Võ Văn Đ 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015:

- Buộc các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H, Võ Văn Đ phải liên đới bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lương Ngọc Ầ với số tiền tổng cộng là 324.495.366đ (Ba trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm sáu mươi sáu đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền các bị cáo đã giao trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm là 115.000.000đồng (Một trăm mười lăm triệu đồng). Như vậy, số tiền còn lại các bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 209.495.366 đồng (Hai trăm không chín triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm sáu mươi sáu đồng). Cụ thể, từng bị cáo phải bồi thường thêm như sau:

  • + Hồ Thanh P có trách nhiệm bồi thường thêm cho bị hại Lương Ngọc Ẩn số tiền là 92.247.683đồng (Chín mươi hai triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi ba đồng);
  • + Võ Văn H có trách nhiệm bồi thường thêm cho bị hại Lương Ngọc Ẩn số tiền là 74.848.610đồng (Bảy mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi tám ngàn sáu trăm mười ngàn đồng);
  • + Võ Văn Đ có trách nhiệm bồi thường thêm cho bị hại Lương Ngọc Ẩn số tiền là 42.399.073 đồng (Bốn mươi hai triệu ba trăm chín mươi chín ngàn không trăm bảy mươi ba đồng).

- Ông Lương Ngọc Ầ được nhận số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002259 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền khởi kiện của ông Lương Ngọc Ầ và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 04/5/2024, bị cáo Hồ Thanh P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 07/5/2024, các bị cáo Võ Văn H và Võ Văn Đ có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 08/5/2024, bị hại Lương Ngọc Ầ kháng cáo đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng tăng mức hình phạt tù đối với 02 bị cáo Hồ Thanh P và Võ Văn H, tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự của 03 bị cáo P, Được và H.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị hại Lương Ngọc Ầ rút yêu cầu kháng cáo tăng mức hình phạt tù đối với 02 bị cáo Hồ Thanh P và Võ Văn H; chỉ yêu cầu tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự của 03 bị cáo P, Được và H; các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

  • Về tố tụng: Bị cáo và bị hại có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo, bị hại là hợp lệ.
  • Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo P và H; giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ; chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại như: ghi nhận thời gian thu nhập thực tế bị mất từ khi xảy ra vụ án đến thời điểm hôm nay là 19 tháng, mức thu nhập 12.000.000đ/tháng; tổn thất tinh thần như Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên 35 tháng, mức lương cơ sở điều chỉnh từ 1.800.000đ lên 2.340.000đ/tháng; bị hại rút yêu cầu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo P và H nên đề nghị đình chỉ.

Luật sư C bào chữa cho bị cáo P: Bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đã khắc phục hậu quả, là lao động chính, trình độ thấp hạn chế về nhận thức; đề nghị xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H, Được.

Luật sư Đỗ Thành T1 - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Lương Ngọc Ẩ: Tại toà phúc thẩm bị hại tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo tăng hình phạt đối với hai bị cáo P và H.

Nay yêu cầu kháng cáo phần bồi thường thiệt hại gồm:

  • Tiền thu nhập thực tế bị mất từ khi xảy ra vụ án đến thời điểm hôm nay là 19

tháng, mỗi tháng là 30.000.000đ thành tiền là 570.000.000đ. Toà án cấp sơ thẩm chỉ tính 13 tháng, mỗi tháng 12.000.000đ là chưa phù hợp.

  • Tiền tổn thất tinh thần 50 tháng, mỗi tháng 2.340.000₫ thành tiền 117.000.000đ. Toà án cấp sơ thẩm chỉ tính 35 tháng, mỗi tháng 1.800.000đ.

Bị cáo P đồng ý lời bào chữa của luật sư, không bổ sung gì thêm.

Bị hại Ẩ đồng ý với ý kiến của luật sư, không bổ sung gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị hại, bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị hại và bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/3/2023, tại quán C1 ở khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hồ Thanh P đã có hành vi dùng tay trái kẹp cổ bị hại Lương Ngọc Ẩ, tay phải đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt của Ẩ. Tiếp đến, Võ Văn H dùng tay phải tát 01 cái vào mặt Ẩ. Sau đó, P giữ đè người Ấn, H nắm tóc Ẩ để Võ Văn Đ dùng dây thun (dài khoảng 1,5m, hai đầu có gắn hai móc bằng kim loại) trói hai tay của Ẩ ra phía sau rồi đưa Ẩ lên xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 72H1-07946 chở đi (P là người điều khiển, Ẩ ngồi giữa không đội nón bảo hiểm và H ngồi sau cùng) về hướng thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Khi xe P lưu thông đến đèn xanh đèn đỏ xã P, huyện Đ thì ông Trương Tấn P1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 72H1-06723 đuổi theo xe của P yêu

cầu P dừng xe lại nhưng P không dừng nên P1 điều khiển xe chạy sát xe của P dẫn đến hai xe va chạm rồi cùng ngã xuống đường. Sau đó, người nhà bị hại cởi trói, đưa bị hại Ẩ về nhà và thấy bị nôn ói nên đưa đi bệnh viện điều trị.

Các bị cáo đã có hành vi bắt trói bị hại đưa trên xe mô tô, bị hại bị trói cả hai tay dẫn đến khi va chạm xe làm bị hại ngã xuống hậu quả làm bị hại tổn thương cơ thể 45%.

Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H, Võ Văn Đ phạm tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị hại Lương Ngọc Ẩ:

Đối với yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo P và H: tại phiên toà phúc thẩm bị hại rút yêu cầu kháng cáo trên nên đình chỉ.

Tại phiên toà phúc thẩm bị hại xác định yêu cầu về bồi thường trách nhiệm dân sự; cụ thể tiền thu nhập thực tế bị mất từ khi xảy ra vụ án đến thời điểm hôm nay là 19 tháng, mỗi tháng là 30.000.000đ thành tiền là 570.000.000đ và tiền tổn thất tinh thần 50 tháng, mỗi tháng 2.340.000đ thành tiền 117.000.000₫.

- Đối với yêu cầu bồi thường tiền thu nhập thực tế bị mất từ khi xảy ra vụ án đến thời điểm hôm nay là 19 tháng, mỗi tháng là 30.000.000₫ thành tiền là 570.000.000đ. Xét thấy tại phiên toà các bị cáo và bị hại thống nhất thời gian bồi thường từ khi xảy ra vụ án đến thời điểm hôm nay là 19 tháng nên ghi nhận; bị hại yêu cầu mỗi tháng 30.000.000đ, còn các bị cáo đồng ý mỗi tháng 12.000.000₫ như thoả thuận tại cấp sơ thẩm; việc thoả thuận thống nhất tại cấp sơ thẩm 12.000.000₫ là tự nguyện, không bị ép buộc, nay bị hại thay đổi mức bồi thường nhưng không cung cấp được chứng từ, tài liệu chứng minh cho việc thay đổi trên cũng như mức thu nhập của bị hại 30.000.000đ/tháng, trong khi đó công việc của bị hại là lao động tự do đánh bắt hải sản, lương không cố định nên không có căn cứ chấp nhận mức thu nhập 30.000.000đ/tháng mà bị hại đưa ra; ghi nhận mức thu nhập 12.000.000đ/tháng và thời gian bồi thường là 19 tháng; Toà án cấp sơ thẩm đã tính 13 tháng nên nay bồi thường thêm 6 tháng x 12.000.000đ thành tiền 72.000.000₫.

- Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại và bị cáo không thỏa thuận được mức bồi thường; Xét thấy thương tích của bị hại là

do lỗi hoàn toàn thuộc về các bị cáo, theo quy định tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự quy định thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định nên có căn cứ buộc các bị cáo phải chịu toàn bộ là 50 tháng lương cơ sở; Tòa án cấp sơ thẩm xác định 35 lần mức lương cơ sở là chưa phù hợp; Mặt khác căn cứ theo Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 quy định về mức lương cơ sở là 2.340.000đồng/tháng nên chấp nhận mức 2.340.000đ/tháng. Do đó có căn cứ chấp nhận phần kháng cáo này của bị hại. Phần bồi thường tổn thất tinh thần được tính như sau: 50 tháng x 2.340.000đ = 117.000.000đ; Toà án cấp sơ thẩm đã tính bồi thường là 63.000.000đ; nay phải bồi thường thêm 54.000.000đ.

Như vậy kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự được chấp nhận thêm như sau:

  • Bồi thường tiền thu nhập thực tế bị mất 72.000.000đ.
  • Bồi thường tiền tổn thất tinh thần 54.000.000đ.

Tổng cộng 126.000.000đ.

Toà án cấp sơ thẩm chia tỷ lệ buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường, không ai kháng cáo yêu cầu xem xét nên buộc các bị cáo bồi thường theo tỷ lệ Toà án cấp sơ thẩm đã tính.

Buộc bị cáo P bồi thường thêm 63.000.000đ và 92.247.683đ = 155.247.683.

Buộc bị cáo H bồi thường thêm 37.800.000đ và 74.848.610đ = 112.648.610đ.

Buộc bị cáo Đ bồi thường thêm 25.200.000đ và 42.399.073đ = 67.599.073₫.

[4] Xét kháng cáo của các bị cáo P, Đ, H như sau:

Hành vi của các bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân, làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Bắt người trái pháp luật” của mình. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh để răn đe, giáo dục riêng với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại xin giảm hình phạt cho các bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm

đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Riêng bị cáo P là người khởi xướng, rủ rê và là người trực tiếp thực hành nên bị cáo P có mức án cao nhất theo Điều 58 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hồ Thanh P 04 (bốn) năm tù, bị cáo Võ Văn H 03 (ba) năm tù và bị cáo Võ Văn Đ 02 (hai) năm tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã đồng ý bồi thường thêm cho phía bị hại; phía bị hại cũng rút yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo P, H và cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo Đ; các bị cáo đã ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự; mức án Toà án cấp sơ thẩm xử phạt như trên có phần nghiêm khắc nên giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với bị cáo Đ tham gia với vai trò giúp sức khi bị cáo P nhờ chở đến quán cà phê thì bị cáo chở đi, khi đến nơi thì bị cáo P và bị cáo H rượt đuổi bắt bị hại Ẩn thì bị cáo Đ không tham gia mà ngồi trước quán nghe điện thoại; khi quay lại thì bị cáo P nhờ bị cáo Đ cột lại dây trói do dây trói bị tuột; mặt khác khi chở bị hại đi thì bị cáo Đ điều khiển xe một mình không chở bị hại; do đó có căn cứ xác định bị cáo Đ tham gia với vai trò thứ yếu, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo; Trong vụ án này bị cáo Đ và bị cáo H là hai anh em ruột; do đó áp dụng Đều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.

Từ những phân tích nêu trên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo P, H, Đ và bị hại Ẩ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo và bị hại được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đình chỉ yêu cầu tăng hình phạt của bị hại Lương Ngọc Ầ đối với các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại Lương Ngọc Ẩ về phần tăng mức bồi thường thiệt hại.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H, Võ Văn Đ.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H, Võ Văn Đ phạm tội “Bắt người trái pháp luật”

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hồ Thanh P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Xử phạt: Võ Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Áp dụng điểm h Khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Võ Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

2.1. - Buộc bị cáo Hồ Thanh P bồi thường cho bị hại Lương Ngọc Ẩn số tiền là 155.247.683đ (một trăm năm mươi lăm triệu, hai trăm bốn mươi bảy nghìn, sáu trăm tám mươi ba đồng).

- Buộc bị cáo Võ Văn H bồi thường cho bị hại Lương Ngọc Ẩn số tiền là 112.648.610đ (một trăm mười hai triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn, sáu trăm mười đồng).

- Buộc bị cáo Võ Văn Đ bồi thường cho bị hại Lương Ngọc Ẩn số tiền là 67.599.073₫ (sáu mươi bảy triệu, năm trăm chín mươi chín nghìn, không trăm bảy mươi ba đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.2. Bị hại ông Lương Ngọc Ầ được nhận số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002259 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Hồ Thanh P, Võ Văn H, Võ Văn Đ và bị hại Lương Ngọc Ẩ không phải nộp.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án .

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ;
  • - VKSND huyện Đất Đỏ;
  • - Công an huyện Đất Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Đất Đỏ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về bắt người trái pháp luật

  • Số bản án: 113/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Bắt người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thanh P và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger