Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/11/2024

V/v: Ly hôn giữa anh Hải và chị Dung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung, ông Nguyễn Văn Chấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “ Ly hôn và con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (có mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1988 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 12/9/2024 và trong các lời khai anh Nguyễn Văn H là nguyên đơn trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thu D kết hôn với nhau vào ngày 04/6/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn giữa anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay đe dọa. Trước khi kết hôn anh chị tự tìm hiểu nhau, sau thời gian tìm hiểu thì anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn chị D về chung sống với anh tại Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Qúa trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ đầu năm 2024 vợ chồng tôi thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, chị D thường xuyên bỏ nhà đi. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh lam đơn đề nghị được ly hôn với chị D.

Về con chung: Anh và chị C có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh D1, sinh ngày 02/3/2020. Hiện nay cháu D1 đang được anh H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Nguyện vọng về việc nuôi con: Anh H đề nghị Toà án giao cháu Nguyễn Anh D1, sinh ngày 02/3/2020 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H đang làm cơ khí tại gia đình thu nhập trung bình từ 10 triệu – 15 triệu/ tháng. Do thu nhập hàng tháng được trả bằng tiền mặt nên anh không có sao kê tài khoản ngân hàng để nộp cho Tòa án được.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Chị Nguyễn Thị Thu D là bị đơn trình bày: Chị nhất trí với lời trình bày của anh H về ngày tháng kết hôn và con chung.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Từ đầu năm 2024 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do mối quan hệ giữa chị và gia đình nhà chồng không hợp nhau, anh H thường xuyên xúc phạm chị. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đồng ý ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh D1, sinh ngày 02/3/2020. Hiện nay cháu D1 đang được anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay chị D đang làm giao viên hợp đồng tại trường Tiểu học B, mức thu nhập 7.000.000đ/tháng. Hiện nay chị đang ở nhà thuê tại thị trấn Đ, chị D thuê nhà trung bình các chi phí hết 1.000.000đ/tháng, số tiền lương 7.000.000đ/tháng trừ đi các chi phí trang trải cho cuộc sống của chị là vừa đủ. Tại phiên tòa chị D khai đến tháng 12 năm 2024 chị mới được trả lương. (do hiện nay chị mới được nhận vào làm hợp đồng tại trường Tiểu học Bảo Đài 10/9/2024 nên chưa được trả lương).

Về việc nuôi con chung: Chị D đề nghị Toà án giao cháu Nguyễn Anh D1, sinh ngày 02/3/2020 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị D có yêu cầu cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D không yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Thu D.
  • Về nuôi con chung: Giao cho anh H nuôi con Nguyễn Anh D1, sinh ngày 02/3/2020. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị D được quyền thăm nom con chung, anh H không được cản trở chị D thực hiện quyền này.
  • Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn H và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Chị D có hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện L. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Căn cứ vào Điều 227 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
  2. [2] Về nội dung: Anh H và chị T kết hôn năm 2018 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi cưới, chung sống với nhau đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung vợ chồng nên không có hạnh phúc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị D, ý kiến của chị D nhất trí ly hôn nên HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trong mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh H chị D là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. [3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Hiện cháu đang ở với anh H cháu vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Phía anh H cũng đề nghị được nuôi con, anh có nhà cửa và thu nhập cao đảm bảo được cuộc sống ổn định cho con. Nay ly hôn phía chị D đề nghị được nuôi con. Chị D khai không có nhà cửa hiện nay đi thuê nhà ở trọ, thu nhập làm giáo viên hợp đồng thu nhập được 7.000.000đ. Đến tháng 12/2024 mới được trả lương. Xét thấy yêu cầu, nguyện vọng của anh H là chính đáng và đảm bảo cuộc sống cho cháu D1 nên cần giao cho anh H được trực tiếp nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con anh H không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn chị D được quyền thăm nom con chung, anh H không được cản trở chị D thực hiện quyền này.
  4. [4] Về tài sản, công nợ: Chị D và anh H không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. [5] Về án phí: Anh H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hô giữa anh Nguyễn Văn H được và chị Nguyễn Thị Thu D.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho anh H nuôi con Nguyễn Anh D1, sinh ngày 02/3/2020. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị D được quyền thăm nom con chung, anh H không được cản trở chị D thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 10/10/2024 theo biên lai thu số 0008462. Xác nhận anh H đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Bình Sơn.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn và con chung

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger