TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/DS-PT Ngày: 26/4/2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông.
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt
Ông Nguyễn Xuân Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hồng U - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 71/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 228/2024/QĐPT-DS ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Bùi Văn K, sinh năm: 1958 (đã chết )
- Bà Trần Bật T, sinh năm: 1958 (có mặt)
Cùng điạ chỉ: 3, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông K:
- Bà Trần Bật T, sinh năm 1958 (có mặt)
- Ông Bùi Quốc N, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Ông Bùi Quốc T1, sinh năm 1985 (có mặt)
- Ông Bùi Quốc S, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 3, KP.1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ông N và ông S ủy quyền cho bà Trần Bật T tham gia giải quyết vụ kiện theo giấy ủy quyền có chứng thực số 1492/2018 quyển số 02/2018 ngày 10/07/2018 của Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai (có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Phan Văn L, sinh năm: 1943 (đã chết)
- Bà Trần Thị G, sinh năm: 1937 ( đã chết)
- Ông Phan Tiến Đ, sinh năm: 1968 (có mặt)
Cùng địa chỉ: 39/32, KP.3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông L, bà giữa:
- Phan Tiến S1, sinh năm: 1967 ( đã chết)
- Phan Tiến Đ, sinh năm: 1968 (có mặt)
- Phan Ngọc Anh T2, sinh năm: 2002 (vắng mặt)
- Phan Ngọc Ái M, sinh năm: 2008. Do bà Lê Thị Kiều H, sinh năm: 1978 là người đại diện hợp pháp (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: 39/32, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án sơ thẩm:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 04/12/1986, vợ chồng ông Phan Văn L và bà Trần Thị G có ký giao lô đất tọa lạc tại hẻm C khu phố C phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Đơn xin giao đất có xác nhận số 156/PTD ngày 04/12/1986 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, lô đất trên thuộc thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho vợ chồng ông bà.
Vợ chồng ông bà đã đăng ký thửa đất này theo biên nhận hồ sơ đăng ký nhà ở đất ở số 1548/TTKTĐC ngày 02/10/1999. Sau khi ký giao đất cho đến nay thì vợ chồng ông bà vẫn chưa quản lý thửa đất trên do có phát sinh tranh chấp với gia đình ông L. Sau đó con ông L bà G là ông Phan Tiến Đ cũng đăng ký thửa đất trên theo danh sách đăng ký niêm yết công khai số 41 ngày 24/07/2015 của Ủy ban nhân dân phường T. Vụ việc trên đã được giải quyết nhiều lần nhưng không có kết quả.
Nay bà T và các con bà T đề nghị ông Phan Tiến Đ và những người người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông L bà G có trách nhiệm giao lại thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T thành phố B tỉnh Đồng Nai. Thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có tích là 99m² chênh lệch so với lúc mua là 19m² nên nếu Tòa buộc bị đơn và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn trả lại phần diện tích đất trên cho gia đình bà thì bà sẽ thanh toán lại phần diện tích đất chênh lệch và các tài sản gắn liền với đất theo giá trị thẩm định giá.
Bị đơn và cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan Văn L bà Trần Thị G là ông Phan Tiến Đ trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị Tòa bác bỏ mọi yêu cầu liên quan đến vụ việc giao đất trái pháp luật với lý do:
- - Nội dung giấy giao đất ngày 04/12/1986 là trái pháp luật;
- - Ông K bà T không thực hiện đầy đủ nội dung của giấy giao đất;
- - Tòa án Biên Hòa và Tòa án tỉnh Đồng Nai đã bác đơn khởi kiện vụ án trên của ông K bà T.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn K là các ông Bùi Quốc N, Bùi Quốc T1, Bùi Tiến S2 trình bày:
Các ông thống nhất với yêu cầu của bà T. Đề nghị ông Đ và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn có trách nhiệm giao thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho gia đình các ông
N1 kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông L bà G cháu Phan Ngọc Anh T2, cháu Phan Ngọc Á M do bà Lê Thị Kiều H là đại diện của cháu M vắng mặt không có lý do.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa đã quyết định:
- - Căn cứ điều 26, điều 35, khoản 2,3 điều 68; điều 157, 158 ; khoản 1 điều 165 ; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Áp dụng điều 115 Bộ luật dân sự năm 2016. Điều 166, 168 Luật đất đai năm 2013
- - Áp dụng khoản 1 điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Pháp lệnh án phí lệ phí Toà án số 10 /2009/UNTVQH ngày 22/12/2009
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Bật T và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn K là bà Trần Bật T, ông Bùi Quốc T1, Bùi Quốc S, Bùi Quốc N về việc yêu cầu ông Phan Văn L bà Trần Thị G, ông Phan Tiến Đ nay là các ông bà Phan Tiến Đ, chị Phan Ngọc Anh T2, cháu Phan Ngọc Á M do bà Lê Thị Kiều H là người đại diện hợp pháp của cháu M có trách nhiệm trả phần diện tích đất 99 m² thuộc thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng theo luật định.
Ngày 05/9/2023, nguyên đơn là bà Trần Bật T có Đơn kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa với lý do cấp sơ thẩm đánh giá không khách quan, không công tâm, không toàn diện nên đề nghị Hủy Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về Đơn kháng cáo của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Bật T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa.
- - Về kiến nghị: Không
XÉT THẤY
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Trần Bật T làm trong thời hạn luật định, đã tạm ứng án phí theo quy định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm;
[2] Xét nội dung Đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Trần Bật T, Hội đồng xét xử xác định:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Cấp sơ thẩm xác định: Việc ông K bà T (sau này là bà T và các con ông K bà T) căn cứ vào Đơn xin giao đất ngày 04/12/1986 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai) để yêu cầu ông L, bà G, ông Đ trả lại phần diện tích đất 99m² thuộc thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là không có cơ sở chấp nhận là có căn cứ pháp luật, bởi các lý do:
- - Đơn xin giao đất ngày 04/12/1986 của ông Phan Văn L và bà Trần Thị G có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã không còn thời hiệu khởi kiện và đã được Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đình chỉ với lý do hết thời hiệu khởi kiện theo quyết định đình chỉ giải quyết vụ kiện số 433/2009/QĐST-DS ngày 04/12/2009.
- - Kể từ khi viết đơn xin giao đất ngày 04/12/1986 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai) thì thực tế ông K bà T không hề quản lý, sử dụng phần diện tích đất trên đồng nghĩa với việc chưa được Nhà nước thừa nhận là chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
[2.2] Đối với kháng cáo của nguyên đơn là bà Trần Bật T:
Như trên đã phân tích, việc cấp sơ thẩm không chấp nhận Đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Bật T là có cơ sở và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trần Bật T không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Trần Bật T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Đối với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Áp dụng khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận Đơn kháng cáo của nguyên đơn đơn là bà Trần Bật T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 228, Điều 286, Điều 293, Điều 294, Điều 313, điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2016. Điều 166, 168 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội; Pháp lện án phí lệ phí Toà án số 10 /2009/UNTVQH ngày 22/12/2009
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Bật T và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn K là bà Trần Bật T, ông Bùi Quốc T1, Bùi Quốc S, Bùi Quốc N về việc yêu cầu ông Phan Văn L bà Trần Thị G, ông Phan Tiến Đ nay là các ông bà Phan Tiến Đ, chị Phan Ngọc Anh T2, cháu Phan Ngọc Á M do bà Lê Thị Kiều H là người đại diện hợp pháp của cháu M có trách nhiệm trả phần diện tích đất 99 m² thuộc thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai
[3] Chi phí tố tụng: bà Trần Bật T, ông Bùi Quốc N, ông Bùi Quốc T1, ông Bùi Quốc S phải nộp 25.555.811đ . Chi phí này các đương sự đã nộp xong.
[4] Về án phí:
- - Đối với án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Bật T ông Bùi Quốc N, ông Bùi Quốc T1, ông Bùi Quốc S phải nộp là 95.150.656đ (chín mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng).
- - Đồi với án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Bật T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) – đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008776 ngày 12/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự TP
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Đ1 |
Bản án số 113/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 113/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn trình bày: Vào ngày 04/12/1986, vợ chồng ông Phan Văn L và bà Trần Thị G có ký giao lô đất tọa lạc tại hẻm C khu phố C phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Đơn xin giao đất có xác nhận số 156/PTD ngày 04/12/1986 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, lô đất trên thuộc thửa đất số 389 tờ bản đồ số 12 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho vợ chồng ông bà. Vợ chồng ông bà đã đăng ký thửa đất này theo biên nhận hồ sơ đăng ký nhà ở đất ở số 1548/TTKTĐC ngày 02/10/1999. Sau khi ký giao đất cho đến nay thì vợ chồng ông bà vẫn chưa quản lý thửa đất trên do có phát sinh tranh chấp với gia đình ông L. Sau đó con ông L bà G là ông Phan Tiến Đ cũng đăng ký thửa đất trên theo danh sách đăng ký niêm yết công khai số 41 ngày 24/07/2015 của Ủy ban nhân dân phường T. Vụ việc trên đã được giải quyết nhiều lần nhưng không có kết quả.
