|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/DS-ST
Ngày: 26/8/2024
V/v: “Yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho QSDĐ; hủy Di chúc; hủy Giấy chứng nhận QSDĐ; công nhận đất % và chia di sản thừa kế".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi.
Ông Bùi Thế Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 26/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2022/TLST-DS ngày 24/01/2022 về việc “Yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; hủy Di chúc; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công nhận đất % và chia di sản thừa kế”, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lê Khắc T, sinh năm 1956. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T: ông Lê Khắc H - Trợ giúp viên pháp lý - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường Đ, thành phố T.
* Bị đơn: Ông Lê Khắc T1, sinh 1958. Có mặt.
Địa chỉ: Khu tập thể Z, phường P, quận N, thành phố Hà Nội.
Nơi tạm trú hiện nay: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị X, sinh năm 1960. Có mặt.
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1964. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị L1, sinh năm 1966. Có mặt.
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị B, sinh năm 1971. Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1961. Có mặt.
- UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: ông Lê Khắc T1, sinh 1958.
Địa chỉ: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà S: ông Lê Khắc T1, sinh 1958.
Địa chỉ: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Khu tập thể Z, phường P, quận N, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đình B1 - Chủ tịch.
Địa chỉ: tiểu khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Trọng C - Chủ tịch.
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961. Có mặt.
- Bà Đỗ Thị X1, sinh năm 1947. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A (Thôn G), xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn A (Thôn G), xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Khắc T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trình bày:
Bố mẹ ông là cụ Lê Khắc S1 (sinh năm 1938, chết ngày 06/10/2018) và cụ Đỗ Thị N1 (sinh năm 1932, chết ngày 06/7/2021) sinh được 07 người con, gồm: ông là Lê Khắc T, sinh năm 1956; ông Lê Khắc T1, sinh năm 1958; bà Lê Thị X, sinh năm 1960; bà Lê Thị L, sinh năm 1964; bà Lê Thị L1, sinh năm 1966; bà Lê Thị S, sinh năm 1968 và bà Lê Thị B, sinh năm 1971.
Khi còn sống, bố mẹ ông là chủ sử dụng khu đất ở tại thửa số 594 (bản đồ địa chính xã T năm 1990), nay tương ứng với thửa đất 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011, diện tích 1.105,7m² đất ở tại nông thôn. Nguồn gốc đất là do ông bà ngoại cho bố mẹ ông. Trên thửa đất bố mẹ ông đã xây dựng ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ. Thửa đất của bố mẹ ông đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994, đứng tên bố ông là Lê Khắc S1.
Năm 2015, lợi dụng lúc bố mẹ ông già yếu, không còn minh mẫn và anh em trong gia đình không biết, ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 (vợ ông T1) đã lập “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa bên tặng cho là bố mẹ ông cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 và bên nhận tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, với diện tích đất tặng cho là 200m² đất ở và được UBND xã T chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015 CT-UBND, nên đến ngày 09/7/2015 UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00849/7977/QĐ-UBND cho ông Lê Khắc T1, bà Vũ Thị H1. Trên phần đất tặng cho có cả nhà và tài sản trên đất, nhưng hợp đồng tặng cho lại chỉ cho mình đất và đặc biệt trong hợp đồng tặng cho tại mục A có chữ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 đều do ông Lê Khắc T1 tự ký và điểm chỉ, không phải chữ ký và điểm chỉ của bố mẹ ông. Bố mẹ ông đều là những người không biết chữ, ngoài việc viết được chữ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 thì bố mẹ ông không biết viết các chữ khác và cũng không biết đọc. Vì vậy, tất cả các loại văn bản giấy tờ khác liên quan đến tài sản ông đang yêu cầu Tòa án giải quyết có chữ ký của bố mẹ ông đều là do người khác lập ra. Khi hòa giải ở UBND xã T ông T1 không xuất trình “Di chúc”, khi Tòa án giải quyết vụ án ông T1 mới xuất trình “Di chúc”, ông khẳng định bố mẹ ông khi còn sống tuổi cao sức yếu không viết “Di chúc” để lại. “Di chúc” có sau ngày hòa giải nên ông T1 đã nhờ người có chuyên môn đánh máy xong viết thông tin vào di chúc, phần người lập di chúc không có chữ ký sống mà ốp chữ họ tên của bố mẹ ông vào, không có điểm chỉ, ghi ngày tháng năm, áp đặt người làm chứng, móc nối với cán bộ công chức có chuyên môn lập hồ sơ giả để chiếm đoạt tài sản. Đối với phần hợp đồng tặng cho phần bên A bên tặng cho cũng ốp tên và ghi rõ họ tên bố mẹ ông và điểm chỉ.
Năm 2018 bố ông chết, tháng 7/2021 mẹ ông chết. Trước khi chết, bố mẹ ông không để lại “Di chúc” và cũng không định đoạt khối tài sản này cho bất kỳ ai hết, nhưng hiện nay ông Lê Khắc T1 đã tự ý ngăn cản, không cho anh em trong gia đình vào hương khói cho bố mẹ và còn nhiều lần hành hung vợ ông. Ngày 01/11/2021, UBND xã T đã tổ chức hòa giải nhưng không thành, gia đình ông cũng không thể tự phân chia di sản thừa kế với nhau được.
Ngoài ra, trước khi chết bố ông để lại quyển sổ ghi nợ với nội dung: Thành Hạnh vay 9 chỉ vàng, trả 2 chỉ, còn nợ 7 chỉ; Con gái B mua bò 32 triệu, trả 12 triệu, còn nợ 20 triệu, 01 cái nhẫn 02 chỉ vàng, đôi cúc 2 chỉ vàng, tiền 2.200.000đ; Ngày 9/10/2018 Mười Trang trả nợ 15.000.000đ, cháu H2 con gái Lan Long trả nợ 15.000.000₫; T2 đưa tiền tuất người cao tuổi cho mẹ 5.400.000đ. Khi bố ông mất, mẹ ông và ông lo tang lễ, mẹ ông không lấy tiền của ông do ông ốm đau nhiều lần, chỉ lấy tiền của con gái, con rể, cháu nội, cháu ngoại và đưa cho vợ chồng ông T1, bà H1 giữ, gồm: con gái Xuyên H5 18.000.000đ, con gái Liên Hạnh 18.000.000₫, con gái Sáu Bảy 13.000.000₫, con gái Lan Long 3.000.000đ, con gái Bảy Mây 1.500.000đ, cháu gái nội T Tươi 3.000.000đ, mẹ ông bảo vợ chồng Thành H3 đã lấy hết.
Trong diện tích đất bố mẹ ông để lại có nguồn gốc trước đây là do ông bà ngoại ông cho ở cồn Bù Bi 905,7m², xung quanh cồn là đất của anh trai mẹ ông là ông Đỗ Huy D (hiện nay đã chết). Bố mẹ ông đã thống nhất đổi cho ông D 300m² đất nơi khác để lấy thêm đất liền kề sản xuất. Cụ thể: bà nội Nguyễn Thị M 50m², bố mẹ ông 100m², ông (Lê Khắc T) 50m², ông Lê Khắc T1 50m², bà Lê Thị X 50m² đất phần trăm. Còn bà L, bà L1, bà S, bà B không có đất phần trăm để đổi.
Đối với đất nhà thờ tại xóm C thôn G: ngày 10/3/1975 ông đi bộ đội vào N, sang Campuchia chiến đấu, đến ngày 01/3/1984 bị nhiễm bệnh về nghỉ chế độ tại xã T và ở nhờ trên đất nhà thờ của dòng họ. Do nội bộ mất đoàn kết nên UBND xã T giải quyết cắt đất nhà thờ làm trích lục mang tên ông là Lê Khắc T sử dụng 145m² đất. Xong gia đình vẫn tiếp diễn nhiều mâu thuẫn trong dòng họ nên gia đình ông đã thống nhất trả lại 145m² đất nhà thờ cho dòng họ từ năm 1998 nhưng vẫn giao cho ông thờ cúng. Tháng 2/1998 ông đi khai hoang phục hóa, dồn điền đổi thửa làm trang trại và năm 2006 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trang trại. Năm 2013, UBND xã T làm hồ sơ theo quyết định số 22/2013/QĐ-TT ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ đã có chủ trương cấp tiền làm nhà cho người có công, tháng 4/2018 ông được cấp 40.000.000₫ làm nhà, còn diện tích đất 145m² trước đây bố mẹ ông giao cho ở để thờ cúng các cụ, ông đã trả lại cho dòng họ.
Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- - Hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015.
- - Hủy “Di chúc” do cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 lập ngày 07/6/2015.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND ngày 09/7/2015 của UBND huyện T cấp cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1.
- - Công nhận phần đất phần trăm mà ông Lê Khắc T, ông Lê Khắc T1, bà Lê Thị X mỗi người 50m² trong tổng diện tích đất tại thửa đất số 594, nay tương ứng là thửa đất số 441 mà cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 đã dùng đất phần trăm của ông T, ông T1, bà X được giao trước đó để đổi cho gia đình ông Đỗ Huy D. Phần diện tích còn lại sau khi đã trừ đi phần diện tích đất của ông Lê Khắc T, Lê Khắc T1, Lê Thị X đề nghị Tòa án xem xét chia đều cho những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1.
- - Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 1.105,7m2 đất ở tại nông thôn tại thửa đất số 594 bản đồ địa chính xã T năm 1990, nay tương ứng với thửa đát số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 và ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ trên đất và cây ăn quả theo quy định pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Khắc T1 trình bày:
Ông là con trai thứ 2 của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1, bố mẹ ông sinh được 07 người con, gồm: ông Lê Khắc T, sinh năm 1956; ông là Lê Khắc T1, sinh năm 1958; bà Lê Thị X, sinh năm 1960; bà Lê Thị L, sinh năm 1964; bà Lê Thị L1, sinh năm 1966; bà Lê Thị S, sinh năm 1968 và bà Lê Thị B, sinh năm 1971. Trước đây, gia đình ông gồm bố mẹ và 07 anh em sinh sống cùng ông bà nội tại căn nhà 05 gian, 02 gian bếp, cùng giếng nước và công trình phụ của ông bà để lại trên diện tích đất 145m², địa chỉ tại xóm C thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Lớn lên, năm 1975 ông Lê Khắc T đi bộ đội, năm 1978 ông cũng lên đường làm nhiệm vụ. Năm 1979-1980 ông T về phép, năm 1981 lấy vợ sinh sống cùng bố mẹ ông tại thôn G. Năm 1982, ông về phép và cưới vợ, rồi toàn thể gia đình vẫn sinh sống trên nhà đất tại thôn G nói trên.
Sau đó, thấy con cái đông, lại thêm 2 con dâu nên bố mẹ ông tính đến việc mua thêm đất và làm nhà để tách hộ cho con cháu đỡ khổ.
Năm 1983-1984 bố mẹ ông cùng bà nội (ông nội đã chết) và các anh em họp gia đình chia tách hộ, lúc đó bố ông có hỏi ông T và bà Lê Thị T2 (vợ ông T) ở trong xóm C thôn G hay ra trại B mà bố ông làm nhà mới thì ông T nhận ở căn nhà 05 gian trong xóm C nhưng ra điều kiện bố mẹ ông phải xây tường rào bao quanh và bố ông đã xây tường bao quanh và chia cho ông T căn nhà và các công trình phụ khác, diện tích đất 145m², tại số thửa 100, tờ bản đồ số 05, bản đồ địa chính xã T năm 1990, năm 1994 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng lên ông Lê Khắc T. Còn phần đất ở trại B (phần đất đang tranh chấp) ở xóm A thôn G bố mẹ ông đã lập di chúc và hợp đồng tặng cho để lại toàn bộ cho vợ chồng ông. Khi bố mẹ ông làm thủ tục cho tặng cũng như đã lập di chúc đều thể hiện ý chí cho vợ chồng ông là Lê Khắc T1 và Vũ Thị H1 toàn bộ nhà, đất và các tài sản khác nằm trên đất. Tuy nhiên, do biết bố con, anh em có mâu thuẫn, sợ có tranh chấp sau này nên bố mẹ ông đã trực tiếp làm thủ tục tặng cho và sang tên sổ đỏ cho ông là Lê Khắc T1 diện tích đất ở 200m². Việc lập di chúc và hợp đồng tặng cho của bố mẹ ông là hoàn toàn tự nguyện, thực hiện đúng trình tự theo sự hướng dẫn của UBND xã T và đúng quy định pháp luật. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T cho vợ chồng ông là hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Trước năm 2015 khi bố mẹ ông còn khỏe mạnh, ông T không có ý kiến gì về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông và việc phân chia tài sản của bố mẹ. Năm 2018 bố ông chết, năm 2021 mẹ ông chết. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án Hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là bố mẹ ông (cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1) với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và vợ là bà Vũ Thị H1; hủy “Di chúc” do bố mẹ ông lập ngày 07/6/2015; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 09/7/2015 cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1; Công nhận phần đất phần trăm mà ông Lê Khắc T, ông Lê Khắc T1, bà Lê Thị X mỗi người 50m² trong tổng diện tích đất tại thửa đất số 594, nay tương ứng là thửa đất số 441 mà bố mẹ ông đã dùng đất phần trăm của ông T, ông và bà X được giao trước đó để đổi cho gia đình ông Đỗ Huy D. Phần diện tích còn lại sau khi đã trừ đi phần diện tích đất của ông Lê Khắc T, Lê Khắc T1, Lê Thị X đề nghị Tòa án xem xét chia đều cho những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1; Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 1.105,7m² đất ở tại nông thôn, tại thửa đất số 594, bản đồ địa chính xã T năm 1990, nay tương ứng với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 và ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ trên đất và cây ăn quả bố mẹ ông để lại là không có cơ sở, ông đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Vũ Thị H1 trình bày:
Bà là vợ ông Lê Khắc T1, là con dâu cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1. Phần tài sản là nhà đất tại xóm A thôn G (tài sản đang tranh chấp) khi còn sống bố mẹ chồng bà (cụ S1, cụ N1) đã lập di chúc và hợp đồng tặng cho toàn bộ vợ chồng bà là Lê Khắc T1 và Vũ Thị H1. Trước khi lập hợp đồng tặng cho, cụ S1 cụ N1 đã lập di chúc thể hiện ý chí cho vợ chồng bà toàn bộ nhà, đất, cây lâu năm và các tài sản khác trên đất thuộc quyền sử dụng của 2 cụ.
Trước đây, cụ S1 cụ N1 đã để lại phần đất tổ tiên (tại xóm C, thôn G) và nhà ở cho ông Lê Khắc T, vợ là Lê Thị T2, hai cụ có nguyện vọng chia cho ông T là con cả vì đây là đất tổ tiên để lại để thờ cúng các cụ. Ông T đã nhận và yêu cầu cụ S1 cụ N1 phải xây tường rào bao quanh, hai cụ đã cùng các con xây tường rào bao quanh rồi giao cho ông T. Sau đó, hai cụ cùng bà nội và các con còn lại ra căn nhà ba gian ngoài trại B xóm A thôn G sinh sống, đến năm 2015 hai cụ lập di chúc và hợp đồng tặng cho để lại toàn bộ tài sản cho vợ chồng bà. Khi lập di chúc hai cụ đều thể hiện ý chí cho vợ chồng bà toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất. Tuy nhiên, do biết bố con, anh em có mâu thuẫn, sợ có tranh chấp sau này nên bố mẹ ông đã trực tiếp làm thủ tục tặng cho và sang tên sổ đỏ diện tích đất ở 200m² trước và đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà là Lê Khắc T1 và Vũ Thị H1.
Việc lập di chúc và hợp đồng tặng cho của bố mẹ chồng bà là hoàn toàn tự nguyện, thực hiện đúng trình tự theo sự hướng dẫn của UBND xã T, quy định pháp luật. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T cho vợ chồng bà là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là bố mẹ chồng bà (cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1) với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1; hủy “Di chúc” do bố mẹ chồng bà lập ngày 07/6/2015; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 09/7/2015 cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1; Công nhận phần đất phần trăm mà ông Lê Khắc T, ông Lê Khắc T1, bà Lê Thị X mỗi người 50m² trong tổng diện tích đất tại thửa đất số 594, nay tương ứng là thửa đất số 441 mà bố mẹ ông đã dùng đất phần trăm của ông T, ông và bà X được giao trước đó để đổi cho gia đình ông Đỗ Huy D. Phần diện tích còn lại sau khi đã trừ đi phần diện tích đất của ông Lê Khắc T, Lê Khắc T1, Lê Thị X đề nghị Tòa án xem xét chia đều cho những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1; Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 1.105,7m² đất ở tại nông thôn, tại thửa đất số 594, bản đồ địa chính xã T năm 1990, nay tương ứng với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 và ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ trên đất và cây ăn quả bố mẹ chồng bà để lại là không có cơ sở, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà Lê Thị X trình bày:
Bà là con gái cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1, bố mẹ bà sinh được 07 người con như ông T và ông T1 trình bày là đúng.
Hiện nay anh trai bà là ông Lê Khắc T đang khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại, bà có ý kiến như sau: khi còn sống bố mẹ bà có khối tài sản, tiền vàng, cụ thể đất thổ cư gồm 03 gian nhà ngói trên diện tích 1.105,7m², 03 gian bếp, sân gạch và các công trình phụ tại thửa số 411, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T năm 2011, hiện nay khối tài sản này đang do ông Lê Khắc T1, bà Vũ Thị H1 quản lý sử dụng.
Khi còn sống, mẹ bà nói nhà đất này là của 3 anh em đổi đất phần trăm của mẹ bà, phải trả lại cho 3 anh em gồm Lê Khắc T, Lê Khắc T1, Lê Thị X, phần còn lại của bố mẹ bà còn bao nhiêu đề nghị Tòa án phân chia cho 07 anh chị em bà theo quy định pháp luật. Khi bố mẹ bà còn sống chưa phân chia đất đai nhà cửa, vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bà theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho bố bà năm 1994, nên ông Lê Khắc T1 không thể được hưởng cả. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại là nhà đất tại xóm A thôn G cho 07 anh em, còn các tài sản khác là tiền, vàng, lúa gạo... bố mẹ bà để lại bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung khác bà đồng ý với trình bày của ông Lê Khắc T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Bà Lê Thị S, Lê Thị L, Lê Thị L1, Lê Thị B thống nhất trình bày:
Các bà là con gái cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1, bố mẹ bà sinh được 07 người con như ông T và ông T1, bà X trình bày là đúng.
Phần tài sản bố mẹ các bà là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 để lại đã tặng cho toàn bộ anh trai và chị dâu bà là Lê Khắc T1 và Vũ Thị H1. Đồng thời, trước khi lập “Hợp đồng tặng cho”, bố mẹ các bà đã lập “Di chúc” thể hiện ý chí cho anh trai Lê Khắc T1 toàn bộ nhà, đất. Tuy nhiên, do biết anh em có mâu thuẫn, sợ tranh chấp sau này nên bố mẹ đã trực tiếp làm thủ tục tặng cho và sang tên sổ đỏ phần đất ở 200m² cho ông Lê Khắc T1, bà Vũ Thị H1. Đối với ông Lê Khắc T, trước khi chết đã được bố mẹ để lại ngôi nhà trên diện tích đất 145m², tại thửa đất số 100, bản đồ số 5, bản đồ địa chính xã T năm 1990, địa chỉ: xóm C, xã T, huyện T và năm 1994 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Khắc T, nên phần đất đang tranh chấp này bố mẹ các bà có nguyện vọng để lại cho anh trai là Lê Khắc T1. Anh em bà đã được bố mẹ thông báo cho biết về nội dung này và nắm được tài sản đã được tặng cho trước khi bố mẹ mất nên không đồng ý phân chia di sản thừa kế đối với tài sản của bố mẹ để lại theo yêu cầu của ông T.
“Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” và “Di chúc” giữa bố mẹ các bà với anh trai, chị dâu (ông T1, bà H1) được lập hợp pháp, thực hiện theo đúng hướng dẫn của UBND xã T, được UBND xã T chứng thực. Vì vậy, đề nghị Tòa án công nhận việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00849179771/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 09/7/2015 cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 là hợp pháp, đúng quy định pháp luật. Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Khắc T, chấp nhận di chúc và hợp đồng tặng cho bố mẹ đã lập cho ông T1, bà H1 vì đó là ý nguyện của bố mẹ trước khi chết.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người làm chứng trình bày:
- Bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và gia đình cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 có mối quan hệ là người cùng thôn, đồng thời là anh em xa xưa với cụ Lê Khắc S1 (từ thời các cố xa xưa với nhau, bà không nắm rõ mối quan hệ mà chỉ nghe các cụ ngày xưa nói lại). Giữa bà và gia đình cụ S1 cụ N1 không có mâu thuẫn gì với nhau, bà và gia đình không thuộc diện được hưởng thừa kế của cụ S1 cụ N1 theo quy định pháp luật, cũng không được cụ S1 cụ N1 chỉ định cho hưởng tài sản của hai cụ để lại sau khi hai cụ chết. Vào buổi trưa ngày 07/6/2015, cụ Lê Khắc S1 đến gia đình bà mời bà đến nhà cụ nhờ chút việc. Khi đến nhà cụ S1, bà thấy bà Đỗ Thị X1 người cùng thôn đang ở nhà cụ S1. Sau đó, cụ S1 cụ N1 nói với bà và bà X1 là đất của ông bà ở xóm C thôn G, xã T ông bà cho anh Lê Khắc T, còn đám đất này và tài sản trên đất (tại trại B) là cho anh Lê Khắc T1 nên nhờ các cháu đến làm chứng cho hai bác. Hai cụ nói các tài sản trên cho các con là tài sản thuộc quyền sử dụng của hai cụ theo quy định pháp luật. Sau đó, cụ S1 đưa ra di chúc đã lập cho bà và X1 xem, sau khi bà và bà X1 đọc nội dung di chúc thấy đúng như nguyện vọng hai cụ vừa trao đổi về việc phân chia đất đai, tài sản cho các con nên bà và bà X1 đồng ý làm chứng cho hai cụ. Trong giấy di chúc phần người lập di chúc hai cụ đã ký, bà nhìn thấy phần ký của cụ N1 chỉ có chữ viết Đỗ Thị N1, không có chữ ký như cụ S1 nên có nói “lẽ ra bác phải ký chữ Nhuần trước rồi hãy viết Đỗ Thị N1” thì cụ N1 nói ký thế cũng được nên không ký thêm. Sau đó bà ký vào người làm chứng số 1, bà X1 ký vào người làm chứng số 2, rồi đưa lại bản di chúc cho hai cụ.
Khi tham gia làm chứng trong di chúc của cụ N1, cụ S1, bà hoàn toàn khỏe mạnh, minh mẫn, không có liên quan gì đến quyền và nghĩa vụ về tài sản của hai cụ, hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, mua chuộc hoặc làm chứng vì mục đích khác. Bà xin cam đoan trình bày trên là đúng sự thật, nếu sai xin chịu hoàn toàn trước pháp luật.
- Bà Đỗ Thị X1 trình bày:
Bà và gia đình cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 có mối quan hệ là người cùng thôn, là anh em xa với cụ Đỗ Thị N1 (là chị em 2 đời với nhau). Gia đình bà và gia đình cụ S1 cụ N1 không có mâu thuẫn gì với nhau, bà và gia đình không thuộc diện được hưởng thừa kế của cụ S1 cụ N1 theo quy định pháp luật, cũng không được cụ S1 cụ N1 chỉ định cho hưởng tài sản của hai cụ để lại sau khi hai cụ chết. Vào buổi trưa ngày 07/6/2015 cụ Lê Khắc S1 gọi bà đến nhà cụ nhờ chút việc. Bà sang nhà cụ S1 thì thấy cụ S1 và cụ N1 ở nhà, sau đó có bà Nguyễn Thị N người cùng thôn cũng đến. Cụ S1 cụ N1 nói với bà và bà N là đất của ông bà ở xóm C thôn G, xã T là ông bà cho anh Lê Khắc T, còn đám đất này và tài sản trên đất (trại B) là cho anh Lê Khắc T1 nên nhờ các cháu đến làm chứng cho hai bác. Hai cụ nói các tài sản cho các con là tài sản thuộc quyền sử dụng của hai cụ theo quy định pháp luật. Sau đó, cụ S1 đưa ra di chúc đã lập cho các bà xem, sau khi bà và bà N xem nội dung di chúc thấy đúng như nguyện vọng hai cụ vừa trao đổi về việc phân chia đất đai, tài sản cho các con nên hai bà đồng ý làm chứng cho hai cụ. Trong giấy di chúc đã có chữ ký của hai cụ, bà N thấy cụ N1 chỉ viết Đỗ Thị N1 mà không có chữ ký giống cụ S1 nên bà N nói “lẽ ra theo nguyên tắc bác phải ký trước rồi mới viết tên sau” thì cụ N1 nói ký như thế cũng được nên không ký thêm nữa. Sau đó bà N ký vào người làm chứng số 1, bà ký vào người làm chứng số 2, rồi đưa lại bản di chúc cho hai cụ.
Khi tham gia làm chứng trong di chúc của cụ N1, cụ S1, bà hoàn toàn khỏe mạnh, minh mẫn, không có liên quan gì đến quyền và nghĩa vụ về tài sản của hai cụ, hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, mua chuộc hoặc làm chứng vì mục đích khác. Bà xin cam đoan trình bày trên là đúng sự thật, nếu sai xin chịu hoàn toàn trước pháp luật.
* Tại văn bản số 5002/UBND-TNMT ngày 12/12/2023 và Văn bản số 721/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 23/10/2023 của UBND huyện T và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp thông tin:
- Về hồ sơ địa chính:
- Theo hồ sơ địa chính xã T (đo vẽ năm 1991):
- Theo hồ sơ địa chính xã T (đo vẽ năm 2011):
Thửa đất nằm tại vị trí tờ bản đồ số 05, thửa số 594, diện tích 890m²; loại đất thổ cư, sổ mục kê ghi tên chủ sử dụng Lê Khắc S1.
Thửa đất nằm tại vị trí tờ bản đồ số 14, thửa số 441, diện tích 456,6m²; loại đất ở nông thôn; sổ mục kê ghi chủ sử dụng Lê Khắc S1.
Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- - Cụ Lê Khắc S1 được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0286670 ngày 20/6/1994 với tổng diện tích 2293m², trong đó có thửa đất ở số 594, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m².
- - Năm 2015 cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 tặng cho ông Lê Khắc T1 quyền sử dụng thửa đất số 594, tờ bản đồ số 5, diện tích 200m², tương ứng với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14 (bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011). Được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 354325 tại vị trí thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14, diện tích 200m², đất ở tại nông thôn.
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CA 354325 mang tên ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1.
* Quá trình giải quyết vụ án, ngày 18/3/2021 ông Lê Khắc T có đơn đề nghị Tòa án T6 - Bộ C1 giám định với các nội dung sau:
- - Giám định chữ ký, chữ viết đứng tên “Nhuần”, “Đỗ Thị N1” và chữ ký, chữ viết đứng tên “Sửu”, “Lê Khắc S1” trong Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2016 và Bản di chúc lập ngày 07/6/2015.
- - Giám định tuổi mực đối với Bản di chúc lập ngày 07/6/2015.
- - Giám định dấu vân tay tại Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2016 có phải là dấu vân tay của ông Lê Khắc S1 và bà Đỗ Thị N1 hay không?
Tại Kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của V - Bộ C1 kết luận:
“5.1. Chữ ký đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015) so với chữ viết đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) do cùng một người ký, viết ra.
5.2. Các chữ “Đỗ Thị N1” dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015) so với chữ viết đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫn cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) không phải do cùng một người viết ra.
5.3. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) có phải do cùng một người ký, viết ra không”.
5.4 Các chữ “Lê Khắc S1” dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015) so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) không phải do cùng một người viết, ký ra.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24 Luật Giám định tư pháp năm 2012 và điểm d khoản 1 Điều 80 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, V từ chối thực hiện các yêu cầu:
- - Xác định chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và chữ viết đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 có phải do bà Đỗ Thị N1 ký, viết ra không; chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 có phải do ông Lê Khắc S1 ký, viết ra không do không có mẫu chữ ký, chữ viết mẫu so sánh của bà Đỗ Thị N1 và ông Lê Khắc S1.
- - Xác định tuổi mực của mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) do hiện nay Viện Khoa học hình sự chưa giải quyết được các yêu cầu về tuổi mực của tài liệu.
Tại Kết luận giám định số 338/KL-KTHS ngày 07/12/2022 của V - Bộ C1 kết luận:
“1. Trên tài liệu ký hiệu A (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015), dưới mục Bên A có 03 dấu vân tay ký hiệu từ trên xuống dưới, từ trái qua phải lần lượt là 01, 02 và 03. Trong đó dấu vân tay ký hiệu số 01 và 03 đủ yếu tố giám định, dấu vân tay ký hiệu 02 không đủ yếu tố giám định.
2. Dấu vân tay ký hiệu 01 in bên cạnh dòng chữ viết tay “Lê Khắc S1” với dấu vân tay in ở ở ngón trỏ phải trên tài liệu ký hiệu M1 (Giấy CMND mang tên Lê Khắc S1) là của cùng một người”.
3. Dấu vân tay kí hiệu số 03 in bên phải dòng chữ viết tay “Đỗ Thị N1” với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải trên tài liệu kí hiệu M2 (Giấy CMND mang tên Đỗ Thị N1) là của cùng một người".
Ngày 17/10/2023, ông Lê Khắc T tiếp tục làm đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của ông Lê Văn T3 - Phó chủ tịch UBND huyện T và con dấu của UBND huyện T trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 ngày 09/7/2015.
Ngày 20/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa ban bành “Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ” số 56/2024/QĐ-CCTLCC yêu cầu ông Lê Khắc T cung cấp các tài liệu chứng cứ và tài liệu so sánh để thực hiện việc trưng cầu giám định, gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 354325, số vào số cấp GCN: CH 00849/7977/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 09/7/2015 cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 (là tài liệu đề nghị giám định).
- Cung cấp mẫu chữ ký của ông Nguyễn Văn T4 tại thời điểm năm 2015 để phục vụ cho việc giám định.
- Cung cấp mẫu con dấu của UBND huyện T tại thời điểm năm 2015 để phục vụ cho việc giám định.
Ngày 27/5/2024 ông T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa hỗ trợ thu thập tài liệu chứng cứ vì không thu thập được các tài liệu trên để giao nộp cho Tòa án.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản:
I/ Về đất: diện tích đo thực tế 1.330,9m², có tứ cận:
- - Phía Bắc giáp hộ ông Nguyễn Đình B2, hộ ông Nguyễn Đình N2 và giáp đường giao thông (0,68 + 6,3 + 7,12 + 5,34 + 6,34 + 5,08 + 0,84 + 0,71 + 1,43 + 0,85 + 1,45 + 1,16 + 0,05 + 5,28 + 3,04 + 3,85)m.
- - Phía Tây giáp hộ ông Lê Khắc N3 và hộ ông Lê Thiện H4 (1552 + 4,24 + 11 + 17,38)m.
- - Phía Nam giáp đất nông nghiệp.
- - Phía Đông giáp đất nông nghiệp (13,90 + 5,38 + 16,10 + 4,11+ 9,08 + 12,68 + 7,97)m.
Trị giá: 374.879.800₫.
II/ Công trình, tài sản trên đất:
- - 01 nhà cấp 4 mái ngói, diện tích 41,8m², xây dựng khoảng năm 1978-1980.
- - 01 nhà bếp diện tích 18,4m².
- - 01 chuồng chăn nuôi diện tích 24m² (công trình đã bị hư hỏng, không sử dụng được).
- - 01 buồng mái tôn diện tích 13,2m².
- - 01 nhà vệ sinh và công trình phụ diện tích 5,9m².
- - 01 sân láng bê tông diện tích 41m².
- - 01 chuồng gà mái tôn diện tích 19,4m².
- - 01 giếng đào sâu khoảng 3-5m, đường kính khoảng 90cm.
- - Tường rào 01 đoạn dài 8,29m, cao 1,5m; 01 đoạn dài 15,52m, cao 1,5m; 01 đoạn dài 3.85m, cao 1,5m; 01 đoạn dài 17,89m, cao 0,3m.
Cây cối gồm: 03 cây xoài, 02 cây vải, 05 cây cau, 04 cây nhãn, 03 cây vú sữa, 03 cây bưởi, 06 cây xà cừ, 02 cây dừa, 02 cây lá đắng, 05 cây mít to, 06 cây mít nhỏ, 01 cây ổi, 04 cây dổi và 1 số cây khác không có giá trị.
Trị giá: 37.107.319đ.
III/ Phần đất theo “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 09/6/2015" của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 cho ông Lê Khắc T1, bà Vũ Thị H1.
Diện tích: 200m², có tứ cận:
- - Phía Bắc giáp cây lâu năm 13,33m.
- - Phía Đông giáp cây lâu năm: 15m.
- - Phía Nam giáp cây lâu năm: 13.33m.
- - Phía Tây giáp cây lâu năm: 15m.
Trị giá: 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng).
Tất cả các đương sự đều thống nhất nhà, tài sản trên đất là do cụ S1 cụ N1 để lại, chỉ riêng có gian buồng mái tôn, nhà vệ sinh và công trình phụ, khu chuồng gà do gia đình ông T1 xây dựng sau.
Về cây trồng trên đất: ông T1, bà X, bà L, bà L1, bà S, bà B cho rằng các cây to đều do bố mẹ là cụ S1 cụ N1 để lại, chỉ có hàng cây nhỏ là do ông T1 trồng. Còn ông T cho rằng 05 cây mít to là do ông T trồng, ngoài ra ông còn trồng các cây xà cừ đầu ngõ và cây xoài, ông T là người đào giếng.
Bà X có ý kiến khi bố mẹ bà lát nền trong nhà và ngoài hè thì bà có đóng góp tiền giá trị tương đương 01 chỉ vàng để làm.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Các đương sự thống nhất với kết quả thẩm định và thẩm định giá tài sản, không yêu cầu thẩm định, thẩm định giá lại tài sản.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 465, 467, 467, 646, 647, 649, 650, 652, 653, 654, 656 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 95 Luật đất đai năm 2013.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Khắc T (có bài phát biểu kèm theo).
- - Về án phí sơ thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: ông Lê Khắc T khởi kiện yêu cầu hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015; Hủy “Di chúc” do cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 lập ngày 07/6/2015; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND ngày 09/7/2015 của UBND huyện T cấp cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1; Công nhận phần đất phần trăm mà ông Lê Khắc T, ông Lê Khắc T1, bà Lê Thị X mỗi người 50m² trong tổng diện tích đất tại thửa đất số 594, nay tương ứng là thửa đất số 441 mà cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 đã dùng đất phần trăm của ông T, ông T1, bà X được giao trước đó để đổi cho gia đình ông Đỗ Huy D. Phần diện tích còn lại sau khi đã trừ đi phần diện tích đất của ông Lê Khắc T, Lê Khắc T1, Lê Thị X đề nghị Tòa án xem xét chia đều cho những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1; Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 1.105,7m2 đất ở tại nông thôn tại thửa đất số 594 bản đồ địa chính xã T năm 1990, nay tương ứng với thửa đát số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 và ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ trên đất và cây ăn quả theo quy định pháp luật. Đây là tranh chấp về đất đai và thừa kế tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
UBND huyện T, UBND xã T (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu Hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015; Hủy “Di chúc” của cụ Lê Khắc S1, Đỗ Thị N1 lập ngày 07/6/2015; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND ngày 09/7/2015 của UBND huyện T cấp cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1:
- Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 594, tờ bản đồ số 05 (bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 1990) nay tương ứng với thửa đất 441, tờ bản đồ số 14 (bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011) với diện tích 1.105,7m² đất ở tại nông thôn, trên thửa đất có ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ là của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 để lại, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 đứng tên cụ Lê Khắc S1.
Ngày 07/6/2015, cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 đã lập “Di chúc” với nội dung định đoạt toàn bộ khối tài sản của hai cụ là căn nhà cấp 4 ba gian và 3 gian bếp, sân, giếng, cùng các cây lưu niên nằm trong khuôn viên mảnh đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp ngày 20/6/1994 số D 0286670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số A1100310 QSDĐ (toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền với đất) cho ông Lê Khắc T1, sinh năm 1958 (là con trai hai cụ). Di chúc có chữ ký của cụ Lê Khắc S1, Đỗ Thị N1 và hai người làm chứng là bà Nguyễn Thị N và Đỗ Thị X1.
Ngày 09/6/2015, cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 lập “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: Tặng cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 200m² đất ở, tại thửa số 594, tờ bản đồ số 05, địa chỉ xóm A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp ngày 20/6/1994 số D 0286670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số A1100310 QSDĐ cho cụ Lê Khắc S1, tương ứng với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011. Hợp đồng được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015.
Ông Lê Khắc T cho rằng “Di chúc” và “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” không phải do bố mẹ ông lập ra, bố mẹ ông là người không biết chữ, ngoài viết được chữ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 thì bố mẹ ông không biết viết các chữ khác và cũng không biết đọc. Trên phần đất tặng cho có cả nhà và tài sản trên đất nhưng hợp đồng tặng cho lại chỉ cho mình đất, tại mục A có chữ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 trong hợp đồng đều do ông Lê Khắc T1 tự ký và điểm chỉ, không phải chữ ký và điểm chỉ của bố mẹ ông. Đối với “Di chúc”, khi hòa giải ở xã ông T1 không có di chúc, khi Tòa án giải quyết vụ án ông T1 mới xuất trình di chúc, ông khẳng định bố mẹ ông khi còn sống tuổi cao sức yếu không viết di chúc để lại. Di chúc do ông T1 đã nhờ người có chuyên môn đánh máy, viết thông tin vào di chúc, ốp họ tên của bố mẹ ông vào, không có điểm chỉ, ghi ngày tháng năm, áp đặt người làm chứng, móc nối với cán bộ công chức có chuyên môn lập hồ sơ giả để chiếm đoạt tài sản.
- Xét “Di chúc” lập ngày 07/6/2015: xét thấy, cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 lập di chúc định đoạt toàn bộ khối tài sản thuộc quyền sử dụng của hai cụ là căn nhà cấp 4 ba gian và 3 gian bếp, sân, giếng nước, cùng các cây lưu niên nằm trong khuôn viên mảnh đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp ngày 20/6/1994 số D 0286670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số A1100310 QSDĐ mang tên cụ Lê Khắc S1 cho ông Lê Khắc T1. Di chúc được viết tay, có 02 người làm chứng là bà Nguyễn Thị N và bà Đỗ Thị X1 là những người được cụ S1, cụ N1 nhờ đến làm chứng. Bà N, bà X1 là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cụ S1, cụ N1; không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc. Bà N, bà X1 khẳng định cụ S1, cụ N1 là người ký vào di chúc, hiểu rõ nội dung cụ S1, cụ N1 trao đổi nên mới ký vào phần người làm chứng. Khi làm chứng bà N và bà X1 hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không vì mục đích khác. Vì vậy, về hình thức và nội dung của “Di chúc” phù hợp với quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2005. Ông Lê Khắc T cho rằng chữ ký của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 trên “Di chúc” là giả nhưng không có căn cứ chứng minh, không thừa nhận chữ ký, chữ viết của hai cụ trong “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” và “Di chúc” nhưng không cung cấp được mẫu chữ ký, chữ viết của hai cụ để thực hiện việc giám định. Mặt khác, tại Kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của V - Bộ C1 đã kết luận “5.1. Chữ ký đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015) so với chữ viết đứng tên Đỗ Thị N1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) do cùng một người ký, viết ra; 5.3. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “BÊN A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Khắc S1 dưới mục “Người lập di chúc” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Di chúc lập ngày 07/6/2015) có phải do cùng một người ký, viết ra không”. Như vậy, có cơ sở cho thấy cụ Đỗ Thị N1 là người ký vào “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015" có dấu vân tay của cụ, có chứng thực của UBND xã T cũng ký vào “Di chúc” lập ngày 07/6/2015. Đối với cụ Lê Khắc S1, do không đủ cơ sở kết luận chữ ký trong “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015” với chữ ký, chữ viết trong “Di chúc” lập ngày 07/6/2015 có phải do cùng một người ký, viết ra, chứ không phải nội dung kết luận cụ Lê Khắc S1 không ký, viết tên mình vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và Di chúc. Ông T cũng không có căn cứ xác định việc người làm chứng bị áp đặt, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị N và Đỗ Thị X1 khẳng định việc các bà làm chứng cho cụ S1, cụ N1 là có thật, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, khách quan, không bị ai ép buộc, không vi phạm quy định của pháp luật nên có cơ sở xác định “Di chúc” của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 lập ngày 07/6/2015 có 02 người làm chứng là bà Nguyễn Thị N và Đỗ Thị X1, tài sản định đoạt thuộc quyền sử dụng của hai cụ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho cụ S1, vì vậy phù hợp với quy định tại 656 Bộ luật dân sự năm 2005 nên xác định là “Di chúc” hợp pháp.
- Xét “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” do UBND xã T chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015, thấy rằng: ông Lê Khắc T nại rằng năm 2015 lợi dụng lúc cụ S1, cụ N1 già yếu, không còn minh mẫn, ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 đã lập “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa bên tặng cho là bố mẹ ông cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1, bên nhận tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, với diện tích đất tặng cho là 200m² đất ở, đã được UBND xã T chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015 CT-UBND nên ngày 09/7/2015 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp Giấy chứng nhận CH00849/7977/QĐ-UBND cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 là không đúng quy định pháp luật.
Xét thấy, về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản, có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền là UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có ký tên, điểm chỉ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: hợp đồng thể hiện việc cụ S1 và cụ N1 tặng cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 là con trai và con dâu 200m² đất ở tại thửa số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 là phù hợp quy định pháp luật, vì tài sản thuộc quyền sử dụng của hai cụ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho cụ Lê Khắc S1 ngày 20/6/1994. Thời điểm tặng cho ông T1 và bà H1, tài sản của hai cụ không thuộc diện bị kê biên, hạn chế quyền về tài sản và không có tranh chấp. Việc tặng cho của hai cụ là hoàn toàn tự nguyện, được lập và chứng thực tại UBND xã T. Ông T cho rằng chữ ký, chữ viết, dấu vân tay trong Hợp đồng tặng cho không phải của hai cụ, nhưng theo Kết luận giám định của V - Bộ C1 thì dấu vân tay của hai cụ trong giấy CMND do Công an tỉnh T cấp phù hợp với dấu vân tay của hai cụ trong hợp đồng tặng cho, nên trình bày của ông T là không có căn cứ và không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Mặt khác, như phân tích trên có cơ sở cho thấy cụ Đỗ Thị N1 là người ký vào “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015” có dấu vân tay của cụ, có chứng thực của UBND xã T cũng ký vào “Di chúc” lập ngày 07/6/2015. Đối với cụ Lê Khắc S1, do không đủ cơ sở kết luận chữ ký trong “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2015” với chữ ký, chữ viết trong “Di chúc” lập ngày 07/6/2015 có phải do cùng một người ký, viết ra, chứ không phải nội dung kết luận cụ Lê Khắc S1 không ký, viết tên mình vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và Di chúc.
Ông T còn nại trên phần đất tặng cho có cả nhà và tài sản trên đất, nhưng “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” chỉ thể hiện cho mình đất là không hợp pháp. Tuy nhiên, theo phân tích trên thì ngày 07/6/2015 cụ S1 và cụ N1 đã lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho ông T1. Di chúc được xác định là hợp pháp, nên hợp đồng chỉ thể hiện tặng cho ông T1 và bà H1 đất mà không thể hiện tặng cho tài sản trên đất cũng không ảnh hưởng đến quyền được hưởng tài sản của ông T1, bà H1 từ cụ N1, cụ S1.
Trên cơ sở nội dung của “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015, ngày 09/7/2015 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00849/7977/QĐ-UBND cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 là phù hợp quy định pháp luật.
Việc ông T1, bà H1 chưa làm thủ tục đối với diện tích đất còn lại ngoài diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” ngày 09/6/2015 là do phần đất còn lại ông T1, bà H1 được hưởng theo nội dung “Di chúc” ngày 07/6/2015 của S1, cụ N1 chỉ phát sinh hiệu lực sau khi các cụ chết.
Tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất thừa nhận thửa đất ông T1, bà H1 đang quản lý, sử dụng (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và các thửa đất khác ông T1, bà H1 đang quản lý sử dụng (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tại thửa đất số 594, tờ bản đồ số 05, địa chỉ xóm A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, tương ứng với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011, địa chỉ: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là các thửa đất liền nhau và của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 để lại.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lê Khắc T về việc yêu cầu hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015; Hủy “Di chúc” của cụ Lê Khắc S1, Đỗ Thị N1 lập ngày 07/6/2015; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND ngày 09/7/2015 của UBND huyện T cấp cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu xác định trong tổng diện tích đất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 để lại có 50m² đất % của ông Lê Khắc T, 50m² đất % của bà Lê Thị X, 50m² đất % của ông Lê Khắc T1:
Xét thấy, theo lời khai của ông T và bà X thì đất ở cồn B (diện tích đất đang tranh chấp hiện nay) trước đây là của ông bà ngoại cho bố mẹ ông bà (cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1) diện tích 905,7m², xung quanh cồn là đất của anh trai cụ N1 là Đỗ Huy D. Sau đó, cụ S1 và cụ N1 đã thống nhất đổi cho ông D 300m² đất nơi khác để lấy thêm đất liền kề sản xuất. Cụ thể, trong số 300m² đất đổi đó có 50m² đất % của bà nội Nguyễn Thị M, 100m² của cụ S1 và cụ N1, 50m² của ông Lê Khắc T, 50m² của ông Lê Khắc T1 và 50m² của bà Lê Thị X. Còn bà Lê Thị L, Lê Thị L1, Lê Thị S, Lê Thị B không có đất phần trăm để đổi. Ông T, bà X đề nghị Tòa án xác định trong tổng diện tích đất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 để lại có 50m² đất % của ông Lê Khắc T, 50m² đất % của bà Lê Thị X, 50m² đất % của ông Lê Khắc T1.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra “Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ” chứng minh, nhưng ông T và bà X không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông T, bà X, ông T1 có đất % để đổi cho ông Đỗ Huy D (ông D hiện nay đã chết).
Ông T và bà X xuất trình “Đơn bổ sung chứng cứ” có xác nhận của UBND xã T xác nhận về nội dung: ông Lê Khắc T và bà Lê Thị X là con cụ Lê Khắc S1, đất % của hộ cụ S1 ông T, bà X được nhận thừa kế, ông T là cháu cụ M (đã chết), đất % của cụ S1, cụ N1 ông T được nhận thừa kế của cụ M, cũng không thể hiện việc ông T, bà X, ông T1 có đất % và không có cơ sở để xác định có việc đổi đất cho ông Đỗ Huy D. Trong khi đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho cụ Lê Khắc S1 năm 1994 không thể hiện cấp chung cho hộ gia đình, không xác định đất % thuộc hộ gia đình. Trong vụ án này, ông T và bà X cũng như những người tham gia tố tụng khác không yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của cụ M để lại, nên Tòa án không xem xét. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông T và bà X về việc đề nghị xác định trong tổng diện tích đất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 để lại có 50m² đất % của ông Lê Khắc T, 50m² đất % của bà Lê Thị X và 50m² đất % của ông Lê Khắc T1.
[2.3] Về yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 theo quy định pháp luật:
Như đã phân tích trên, thửa đất số 594, tờ bản đồ số 05, địa chỉ xóm A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng quyền sử dụng đất số D 0286670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số A1100310 QSDĐ do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/6/1994 cho cụ Lê Khắc S1. Tương ứng với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 và toàn bộ các thửa đất khác được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Lê Khắc S1 đã được cụ S1, cụ N1 lập “Di chúc” và “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” tặng cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1 toàn bộ tài sản. Việc lập “Di chúc” và “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật, được xác định là hợp pháp. Do đó, không còn là di sản thừa kế của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thi N4 để lại, nên ông T yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 theo quy định pháp luật là không có căn cứ chấp nhận.
* Ngoài ra, ông T và bà X trình bày trước khi chết cụ S1 để lại 01 quyển sổ ghi nợ, với nội dung ghi: Thành Hạnh vay 09 chỉ vàng, trả 02 chỉ, còn nợ 07 chỉ. Con gái B mua bò 32 triệu, trả 12 triệu, còn nợ 20 triệu, 01 cái nhẫn 02 chỉ vàng, đôi cúc 02 chỉ vàng, tiền 2.200.000đ. Ngày 9/10/2018 Mười T5 trả nợ 15.000.000₫, cháu H2 con gái Lan Long trả nợ 15.000.000đ. Tươi đưa tiền tuất người cao tuổi cho mẹ 5.400.000đ. Khi bố ông mất, mẹ ông và ông lo tang lễ, mẹ ông không lấy tiền của ông do ông ốm đau nhiều lần, chỉ lấy tiền của con gái, con rể, cháu nội, cháu ngoại và đưa cho vợ chồng ông ông T1, bà H1 giữ, gồm: con gái Xuyên H5 18.000.000đ, con gái Liên Hạnh 18.000.000₫, con gái Sáu Bảy 13.000.000₫, con gái Lan Long 3.000.000đ, con gái Bảy Mây 1.500.000đ, cháu gái nội Trung Tươi 3.000.000₫.
Đối với nội dung này, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông T1 bà H1 cung cấp quyển sổ ghi nợ của cụ Lê Khắc S1 để lại, nhưng ông T1 và bà H1 khẳng định mình không giữ quyển sổ này, cũng không lấy hoặc giữ tài sản nào khác như vàng, tiền... của cụ S1 và cụ N1. Ông T và bà X không có căn cứ chứng minh ông T1, bà H1 đang giữ quyển sổ ghi nợ và các tài sản khác của cụ N1, cụ S1. Tại phiên tòa, ông T và bà X thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
* Trong thời gian tạm ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ, Tòa án nhận được thông báo của ông Lê Khắc T (qua điện thoại) thông báo về việc ông Lê Khắc T1 tự ý chặt, tỉa một số cây trồng trên diện tích đất của cụ S1, cụ N1 đang được Tòa án giải quyết tranh chấp là hủy hoại tài sản, gây thiệt hại về giá trị tài sản đối với các đồng thừa kế khác. Tuy nhiên, sự việc đã được Công an xã T lập “Biên bản làm việc” ngày 27/7/2024, ghi nhận hiện trạng ông T1 đã cắt tỉa hết cành của 02 cây xà cừ, 01 cây xoài; chặt gốc 01 cây vú sữa và yêu cầu ông T1 tạm dừng việc cắt, tỉa cây chờ Tòa án giải quyết. Ông T1 trình bày việc ông cắt, tỉa các cây trên là do sắp đến mùa mưa bão, sợ cây đổ vào nhà của gia đình nhà hàng xóm, chứ không phải là hủy hoại tài sản.
Tại phiên tòa, ông Lê Khắc T không đề nghị Tòa án xem xét, thẩm định và thẩm định giá trị bị thiệt hại của số cây trồng đã bị ông T1 cắt, tỉa nêu trên, không yêu cầu ông T1 phải bồi thường, mà đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về lệ phí, án phí: ông Lê Khắc T phải nộp lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản, lệ phí giám định và đã thực hiện xong.
Ông Lê Khắc T là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 465, 467, 467, 646, 647, 649, 650, 652, 653, 654, 656 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 95 Luật đất đai năm 2013. Điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Khắc T về việc:
- - Hủy “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” lập ngày 09/6/2015 giữa bên tặng cho là cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 với bên được tặng cho là ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chứng thực hợp đồng số 09, quyển số 01/2015.CT-UBND ngày 09/6/2015.
- - Hủy “Di chúc” do cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 lập ngày 07/6/2015.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 00849/7977/QĐ-UBND ngày 09/7/2015 của UBND huyện T cấp cho ông Lê Khắc T1 và bà Vũ Thị H1.
- - Công nhận phần đất phần trăm mà ông Lê Khắc T, ông Lê Khắc T1, bà Lê Thị X mỗi người 50m² trong tổng diện tích đất tại thửa đất số 594, nay tương ứng là thửa đất số 441 mà cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1 đã dùng đất phần trăm của ông T, ông T1, bà X được giao trước đó để đổi cho gia đình ông Đỗ Huy D. Phần diện tích còn lại sau khi đã trừ đi phần diện tích đất của ông Lê Khắc T, Lê Khắc T1, Lê Thị X đề nghị Tòa án xem xét chia đều cho những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Khắc S1 và Đỗ Thị N1.
- - Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 1.105,7m2 đất ở tại nông thôn tại thửa đất số 594 bản đồ địa chính xã T năm 1990, nay tương ứng với thửa đát số 441, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2011 và ngôi nhà ngói cấp bốn 03 gian, nhà bếp và các công trình phụ trên đất và cây ăn quả theo quy định pháp luật.
Về lệ phí, án phí: ông Lê Khắc T đã nộp đủ lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản, lệ phí giám định. Ông T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
Nơi nhận:
- - Tòa án, cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
- - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
- - Các đương sự;
- - TỔ HC-TP;
- - Lưu hồ sơ;
Bản án số 113/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho qsdđ; hủy di chúc; hủy giấy chứng nhận qsdđ; công nhận đất % và chia di sản thừa kế
- Số bản án: 113/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho QSDĐ; hủy Di chúc; hủy Giấy chứng nhận QSDĐ; công nhận đất % và chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khắc T - Lê Khắc T1 “Yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho QSDĐ; hủy Di chúc; hủy Giấy chứng nhận QSDĐ; công nhận đất % và chia di sản thừa kế”.
