Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CG

TỈNH LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2023/HSST

Ngày: 07-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG – TỈNH LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh.
Ông Nguyễn Thanh An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CG: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CG, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2023/TLST - HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2023/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chung Quảng Q, sinh năm: 1990.

Tên gọi khác: Long.

Nơi thường trú: 993/13B Lò Gốm, Phường 8, Quận 6, Tp. M; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chung Quảng Bình và bà Nguyễn Thị Thu H; Bản thân có vợ tên Lê Thị Phượng, có 01 con, sinh năm 2008; Tiền án: Bản án số 108/2020/HSST, ngày 28/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện CG xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/3/2022, chưa xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân Thân: Quyết định số 13297, ngày 26/6/2012 của Công an Phường 10, Quận 6, Tp. M xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 157/2012/HSST, ngày 22/10/2012 của Tòa án nhân dân Quận 6, Tp. M xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong ngày 27/4/2013; Bản án số 68/2014/HSST, ngày 30/6/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Tp. M xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong ngày 09/3/2015 và Quyết định số 429/2018/QĐ-TA, ngày 08/10/2018 của Tòa án nhân dân

2

huyện Bình Chánh, Tp. M quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 30/01/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Thanh D, sinh năm: 1983 (vắng mặt).

Cư trú: ấp Long Hưng, xã Long Thượng, huyện CG, tỉnh LA.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1972 (vắng mặt).

Cư trú: 993/13B Lò Gốm, Phường 8, Quận 6, Tp. M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 18/7/2023, Chung Quảng Q điều khiển xe mô tô biển số 59K2-541.69 đi từ nhà trọ ở xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Tp. M đến xã Phước Lý, huyện CG mục đích tìm người quen để mượn tiền, đến khoảng 07 giờ 00 phút, cùng ngày, khi Q điều khiển xe đi ngang cửa hàng vật liệu xây dựng Thanh D, địa chỉ ấp Long Thới, xã Long Thượng, huyện CG, tỉnh LA do anh Nguyễn Thanh D làm chủ phát thì hiện cửa hàng không có người trông coi. Q đậu xe mô tô bên ngoài cửa hàng và đi bộ vào trong thấy trên bàn làm việc có một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 256GB màu đen và một diện thoại nhãn hiệu Samsung A23 màu vàng. Q lén lút lấy trộm hai điện thoại bỏ vào trong túi quần đang mặc, rồi ra xe chạy về bến xe Quận 8, Tp. M. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Q bán hai điện thoại trộm được cho một người đàn ông không rõ lai lịch được số tiền 5.200.000 đồng, Q đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị mất trộm, do hai điện thoại có định vị nên anh D không trình báo cơ quan Công an mà nhờ bạn tìm kiếm, do không tìm được, nên ngày 25/7/2023 anh D trình báo cơ quan công an. Qua truy xét, Công an xã Long Thượng mời Q làm việc, Q thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá số 51/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện CG kết luận giá trị tài sản 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen là 27.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung A23, màu vàng là 3.167.000 đồng. Tổng giá trị là 30.167.000 đồng (ba mươi triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 109/CT-VKSCG ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CG truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

3

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Chung Quảng Q từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Q có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh D số tền 30.167.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả: 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen đỏ, Biển số: 59K2-541.69 cho bà Nguyễn Thị Thu H, do bà H không biết Q sử dụng xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, là phù hợp.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo trong lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 18/7/2023, tại cửa hàng vật liệu xây dựng Thanh D, bị cáo Q đã thực hiện hành vi lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu vàng của anh Nguyễn Thanh D. Theo Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 26/7/2023, kết luận: tài sản bị cáo Q chiếm đoạt trị giá 30.167.000 đồng (ba mươi triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

4

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo là “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: một lần bị công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp và hai lần bị tòa án kết án cùng về tội “Trộm cắp tài sản” và một lần bị tòa án đưa đi tập trung cai nghiện với thời gian 18 tháng.

[8] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[9] Về tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả: cho bà Nguyễn Thị Thu H 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đen đỏ, Biển số: 59K2-541.69 do là tài sản hợp pháp của bà H, việc bị cáo Q mượn xe sau đó sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bà H không biết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại anh D vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện anh D có yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường số tiền 30.167.000 đồng (bút lục số 37-38). Trước yêu cầu của anh D, bị cáo Q đồng ý, nên ghi nhận.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền còn phải bồi thường cho bị hại là 30.167.000 đồng theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

5

Tuyên bố bị cáo Chung Quảng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Chung Quảng Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/7/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (07/11/2023) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Chung Quảng Q phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh D số tiền 30.167.000 đồng (ba mươi triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất pháp luật quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và nộp 1.508.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh LA;
  • -VKSND huyện CG;
  • -CA huyện CG;
  • -THADS huyện CG;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2023/HSST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG – TỈNH LA về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 113/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG – TỈNH LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chung Quảng Qu phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger