Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số:113/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28/12/2023

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền ;

Bà Nguyễn Thị Thêu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “ Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 147/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình

Hiện đang lao động tại Đài Loan.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 07/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó cả hai anh chị đi Đài Loan lao động, đến năm 2020 anh về nước trước, chị H ở lại Đài Loan thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đồng thời kinh tế vẫn khó khăn dẫn đến vợ chồng căng thẳng, năm 2022 chị H về nước và đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở, sau đó chị H tiếp tục đi Đài Loan. Quá trình lao động tại Đài Loan anh chị vẫn liên lạc nhưng vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay anh T xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn chị H.

+Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Kiều L, sinh ngày 12/3/2014. Ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng anh T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn L1 – bố đẻ chị H, ông L1 trình bày:

Anh T và chị H tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn như anh T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống một thời gian thì ông thấy cả hai không hạnh phúc, nguyên nhân là do kinh tế khó khăn cả hai anh chị đều đi Đài Loan sau đó anh chị về nước. Đến năm 2022, anh T về nước, chị H vẫn ở lại Đài Loan lao động. Hai anh chị càng ngày càng lạnh nhạt, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng do vợ chồng ở xa. Nay anh T xin ly hôn, chị H đồng ý. Về con chung: Anh chị có 01 con chung, là cháu Nguyễn Kiều L, sinh ngày 12/3/2014. Hiện nay cháu đang ở cùng ông bà ngoại. Anh T, chị H ly hôn, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Về tài sản chung: Anh T, chị H không có tài sản chung. Ông đã thông báo cho chị H biết việc anh T xin ly hôn, do điều kiện công việc nên chị H không về Tòa án làm việc, chị H có trao đổi với ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị H.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Ngọc T được ly hôn chị Nguyễn Thị H, giao con Nguyễn Kiều L, sinh ngày 12/3/2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận việc anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho các đương sự, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, bố đẻ chị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị H, tuy nhiên chị H không gửi bản tự khai về Tòa án Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình tiến hành thủ tục niêm yết văn bản tố tụng và xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình, nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa theo đúng quy định Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Các tài liệu thể hiện, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và không quan tâm đến nhau. Bố đẻ chị H là ông L1 cũng trình bày cả hai anh chị đều xác định hôn nhân của anh chị không hạnh phúc và chị H biết việc anh T xin ly hôn chị H cũng đồng ý ly hôn. Như vậy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, có duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc nên cần xử cho anh T ly hôn chị H là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Anh T và chị H đều xác định anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Kiều L, sinh ngày 12/3/2014. Hiện nay cháu L đang do bố mẹ đẻ của chị H nuôi dưỡng. Cháu L có đơn đề nghị được ở với mẹ là chị H. Tuy nhiên, chị H đang lao động tại Đài Loan không có mặt tại Việt Nam để trực tiếp chăm sóc cháu L, vì vậy cần giao cháu L cho anh T nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh T xác định anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên Tòa án giải quyết, chị H không gửi bản tự khai để trình bày về tài sản chung nên chị H có quyền yêu cầu giải quyết về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Ngọc T được ly hôn chị Nguyễn Thị H
  2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Kiều L, sinh ngày 12/3/2014. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

    Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh T xác định không có tài sản chung và nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Chị H không trình bày về tài sản chung nên chị H có quyền yêu cầu giải quyết về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng anh T nộp tại biên lai số 0005722 ngày 05/10/2023 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự. Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP;

Nguyễn Thị Kim Hằng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Thêu

Hoàng Thị Thu Hiền

THẨM PHÁN CHỦ TỌA - PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 113/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Ngọc T xin ly hôn với chị Nguyễn Thị H, có 01 con chung và không có tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger