|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2023/DS-PT Ngày: 26-12-2023 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Thẩm phán: Ông Ngô Chịu
Ông Lê Trúc Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đẳng, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 160/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 259/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Vợ chồng ông Trương Văn D, sinh năm 1968, bà Trần Thị Thanh N, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Đều vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1970; Trú tại: thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1965; Trú tại: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Vợ chồng nguyên đơn Trương Văn D, Trần Thị Thanh N.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn D: Ông Trương Ngọc L, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Hồng P, Luật sư Văn phòng L1, Chi nhánh P3. Địa chỉ C T, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, tài liệu có tại hồ sơ và trình bày của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thể hiện:
Vợ chồng ông D, bà N được nhà nước giao đất theo Nghị định 64/CP, tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 14, diện tích 382,2m² tọa lạc tại thôn Đ, xã A để canh tác (diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Nay tại phiên tòa ông D lại cho rằng được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/2004 đối với diện tích 365m². Đến khoảng tháng 4/2002, thì vợ chồng ông D, bà N có cho bà Trần Thị B (là cháu gọi ông D bằng Cậu ruột) một phần diện tích đất để tạm cất nhà ở, khi nào ông D, bà N cần thì bà B phải trả lại đất. Tuy nhiên, sau khi bà B cất nhà tạm ở thì có hành vi cơi nới, mở rộng phần đất cho ở tạm nên ông D, bà N có báo cáo chính quyền thôn để giải quyết, lúc này có ông Phạm Văn N1 (là trưởng thôn) đến tham gia giải quyết, đo đạc diện tích đất cho ở tạm là 110m² nên giữa ông D và bà B có lập giấy chuyển nhượng về việc vợ chồng ông D đồng ý cho bà B diện tích đất 110m² để ở tạm chứ không được chuyển nhượng cho người khác. Sau đó đến tháng 8/2020 bà B dỡ nhà tạm, xây dựng lại nhà kiên cố, ông D, bà N đã báo cáo UBND xã A, sự việc đã được hòa giải nhưng không thành.
Việc bà B cho rằng vợ chồng ông D, bà N đã bán diện tích đất từ vách tường nhà cũ đến bụi tre là 5 phân vàng y và 800.000đ là không đúng. Vợ chồng ông D, bà N không có bán hay chuyển nhượng phần diện tích đất này. Còn số tiền 05 phân vàng y và 800.000đ thì bà B đưa ông D, bà N là trả tiền hoa màu chứ không phải tiền mua đất.
Nay vợ chồng ông D, bà N khởi kiện yêu cầu TAND huyện Tuy An buộc bà B phải tháo dỡ nhà ở, trả lại toàn bộ diện tích đất 365m² (đo đạc thực tế 318m²) cho vợ chồng ông D, bà N.
* Tài liệu có tại hồ sơ và trình bày của Bị đơn thể hiện:
Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của bà ngoại bà B (bà Phạm Thị D1) cũng là mẹ ruột ông D để lại (không có giấy tờ gì); vào năm 2001 do bà B không có đất ở nên bà B và mẹ bà B (đã chết) có đến gặp bà ngoại bà B xin một diện tích đất để ở. Lúc đó thì bà N2; ông D, bà N (sống cùng bà ngoại) đồng ý cho bà B diện tích đất nói trên nên bà B đã xây dựng nhà để ở trên diện tích đất đó. Tuy nhiên, đến năm 2003, sau khi bà ngoại và mẹ bà B qua đời thì vợ chồng ông D xuống rào lại không cho bà B ra vô, vì sợ vợ chồng ông D, bà N làm khó nên bà B và ông Nguyễn Văn X (bà B và ông X sống chung với nhau chứ không đăng ký kết hôn) có mua lại diện tích đất từ vách tường nhà cũ đến bụi tre là 5 phân vàng y và 800.000đ để xây dựng nhà cầu, nhà tắm và cất chuồng heo để nuôi heo; xây lò bánh tráng, bà B đã sửa lại thành nhà bếp cho đến năm 2014 được Nhà nước hỗ trợ bioga đến nay. Việc chuyển nhượng diện tích đất này thì không có giấy tờ gì, chỉ thỏa thuận miệng. Đến năm 2005, hai bên xích mích về diện tích đất tranh chấp nên có báo cáo chính quyền địa phương, sau đó ông Phạm Văn T (Trưởng thôn) có đến đo đạc lại diện tích mà vợ chồng ông D, bà N đã cho bà B là 110m², diện tích đất này vợ chồng ông D, bà N có lập giấy chuyển nhượng đất cho bà B. Giấy chuyển nhượng viết tay không đề ngày tháng năm do ông Phạm Văn T (trưởng thôn) viết, bà B và ông D cùng ký tên. Sau đó thì bà xây dựng nhà ở ổn định từ đó đến nay, có đi kê khai đăng ký diện tích đất nói trên tại ủy ban. Vì nhà quá thấp và đã xuống cấp nên tháng 8/2020 bà B đã sửa chữa lại. Nay vợ chồng ông D, bà N khởi kiện yêu cầu bà B phải trả lại toàn bộ diện tích đất nói trên thì bà B không đồng ý. Bà B có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất đang tranh chấp theo đo đạc thực tế là 318m² là của bà B.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn X trình bày: Ông X thống nhất với lời trình bày của bà B về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp. Đối với việc cho đất giữa vợ chồng ông D, bà N với bà B thì ông X cũng có biết, nhưng không tham gia ký tên gì trong giấy chuyển nhượng đất cả. Riêng đối với diện tích đất mà bà B mua của vợ chồng ông D, bà N từ vách tường nhà cũ đến bụi tre là 5 phân vàng y và 800.000đ để xây dựng nhà cầu, nhà tắm và cất chuồng heo để nuôi heo; xây hầm bioga, lò bánh tráng, nay sửa lại thành nhà bếp thì ông X có tham gia, vì số tiền mua đất là của ông X vay mượn để đưa cho vợ chồng ông D, bà N. Nay vợ chồng ông D, bà N khởi kiện yêu cầu bà B phải trả lại toàn bộ diện tích đất nói trên thì ông X không đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết đúng pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án lấy lời khai của những người biết về nguồn gốc đất tranh đất gồm ông Phạm Văn T, ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà (cha mẹ ông D và bà Trương Thị P1 (bà P1 là mẹ bà B) để lại, sau đó bà B có xây dựng nhà ở tạm trên đất tranh chấp sử dụng đến năm 2005 thì giữa ông D và B tranh chấp nên chính quyền thôn đến hòa giải, ông T là trưởng thôn cùng ông T1 là công an thôn đến hòa giải, sau đó hai bên có thỏa thuận ông D cho bà B ở trên diện tích đất tranh chấp, chúng tôi có kéo dây đo diện tích là 110m² và lập giấy chuyển nhượng, ông T viết hộ giấy và các bên ký tên. Từ đó bà B ở trên đất ổn định. Còn việc nguyên nhân tranh chấp giữa các bên thế nào thì không biết.
* Ông Trương Văn S có lời khai về nguồn gốc đất tranh chấp là đất của ông bà để lại cho cha mẹ ông S (ông S là anh em ruột với ông D) để trồng cỏ, trồng mì...Khi cha ông S chết thì bà Trương Thị P2 (chị ruột ông S) là mẹ của bà B có lên xin một mảnh đất ở cho bà B ở (vì lúc đó ông S và các anh chị em đều lập gia đình nên không sử dụng đất đó), khi đó mẹ ông S và các anh chị em (kể cả ông D) cũng đồng ý cho bà B một mảnh đất để ở nên bà B đã dựng cái chòi để ở, sau đó bà B có sửa chữa lại nhà ở ổn định từ đó đến nay. Còn việc tranh chấp giữa các bên thế nào thì không biết.
* Theo biên bản xác minh tại UBND xã A thể hiện: Diện tích đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 179, tờ bản đồ số 14 (đo đạc năm 2007), người đứng tên sử dụng là bà Trần Thị B, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây thửa đất số 179 và thửa đất số 201 (thửa 201 đứng tên vợ chồng ông D, bà N, thuộc bản đồ 14, đo đạc năm 2007) là chung một thửa. Nguồn gốc thửa đất tranh chấp là đất của cha mẹ ông D và bà Trương Thị P1 (mẹ bà B) để lại ông D sử dụng và canh tác. Sau đó bà P1 và bà B có xin ông D một phần đất cho bà B ở, năm 2002 thì ông D cho bà B ở và xây dựng trên thửa đất này. Đến năm 2007 thì mới chính thức đo đạc (theo dự án S) thì tách thành 02 thửa là thửa 179 và thửa 201; Thửa 179 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đứng tên trên bản đồ địa chính người sử dụng là bà B; còn thửa 201 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông D, bà N.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy An đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 105, 107, 115, 161, 166, 221 của Bộ luật Dân sự; các điều 95, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; các điều 20, 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn D, bà Trần Thị Thanh N buộc bà Trần Thị B trả lại diện tích đất 318m².
- [2] Chấp nhận yêu cầu của bị đơn Trần Thị B. Công nhận diện tích đất 382m² (đo đạc thực tế 318m²) thuộc thửa đất số 179, tờ bản đồ số 14 (đo đạc năm 2007) tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, có giới cận: phía Đông giáp đường đi vào đất ông Trương Văn D, phía Tây giáp đất ông Trương Văn Đ, phía Nam giáp đường đi, phía Bắc giáp đất ông Trương Văn D thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà Trần Thị B (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).
Bà Trần Thị B được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/8/2023, vợ chồng nguyên đơn Trương Văn D, Trần Thị Thanh N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền ông Trương Ngọc L trình bày giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Luật sư P đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm, xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn do được Nhà nước cân đối theo Nghị định 64/CP để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu HĐXX không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì phải hủy bản án sơ thẩm vì các đương sự đều thống nhất đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông D để lại chưa chia thừa kế nhưng cấp sơ thẩm chấp nhận phản tố của bà B công nhận QSDĐ tranh chấp cho bà B là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, mặc khác cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu về việc cân đối đất cũng như các bản đồ địa chính đối với thửa đất tranh chấp, giấy chuyển nhượng diện tích 110m² không phù hợp thỏa thuận về chuyển nhượng, giấy này có ghi trả đất lại cho nguyên đơn.
Bị đơn bà Trần Thị B giữ nguyên yêu cầu phản tố, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 31/8/2023, vợ chồng nguyên đơn kháng cáo toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số 17/2023/DSST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, ông D vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông X vắng mặt lần thứ 02, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 BTTDS tiến hành xét xử.
[2] Xét kháng cáo của vợ chồng nguyên đơn: Về nguồn gốc đất: Tại phiên tòa, ông Trương Ngọc L, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trương Văn D khẳng định đất tranh chấp tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 14, diện tích 382,2m² tọa lạc tại thôn Đ, xã A có nguồn gốc từ thời xa xưa là của ông bà nội (Trương Văn G, Phạm Thị D1) để lại chính là thửa đất đã được Nhà nước cân đối giao đất cho nguyên đơn theo Nghị định 64/CP theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 738839 ngày 21/5/2004 diện tích 365m² nên không còn là di sản của ông G, bà D1. Còn bị đơn bà Trần Thị B trình bày nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp là của ông bà ngoại bà B (ông Trương Văn G, bà Phạm Thị D1) cũng là cha mẹ ruột ông D để lại. Sau khi được bà ngoại, ông D cho ở và mua lại một phần diện tích đất từ ông D, bà N thì bà đã xây dựng nhà ở đến nay. Năm 2007, bà là người đứng tên kê khai, sử dụng trong hồ sơ địa chính đối với thửa đất tranh chấp nói trên. Lời trình bày giữa nguyên đơn, bị đơn mâu thuẫn nhau về nguồn gốc đất và cũng không cung cấp được bất kỳ giấy tờ nào khác về đất đai để chứng minh nguồn gốc đất, tuy nhiên theo kết quả xác minh tại địa phương, lời khai của những người làm chứng cũng như từ sự thống nhất của đương sự về nguồn gốc ban đầu trước giai đoạn nhà nước cân đối đất theo Nghị định 64/CP là của ông bà ngoại bà B (ông Trương Văn G, bà Phạm Thị D1) cũng là cha mẹ ruột ông D để lại, bản thân ông G, bà D1, cũng như ông D, bà P1 không ai đăng ký, kê khai QSDĐ này, tại phiên tòa các đương sự cũng đều thống nhất trước thời điểm bà B sử dụng đất cất nhà ở năm 2002 thì thửa đất 179 là đất trống không có tài sản gì của cha mẹ ông D, ông D thì cho rằng trên đất có hoa màu của ông nhưng cũng không có tài liệu gì chứng minh. Cấp sơ thẩm đã căn cứ các tài liệu thu thập được xác định: Diện tích đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 179, tờ bản đồ số 14 (đo đạc năm 2007) diện tích 382m², người đứng tên sử dụng là bà Trần Thị B trước đây chung một thửa với thửa đất số 201, tờ bản đồ 14, đo đạc năm 2007, diện tích 526m²(đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AN093982 ngày 09/12/2009 cho vợ chồng ông D, bà N) nhưng quá trình quản lý đất đai tại địa phương xã A chưa đo đạc bản đồ năm 1993, 1997 nên không có bản đồ địa chính nào thể hiện 02 thửa trên là chung một thửa, đến năm 2007 chính thức đo đạc (theo dự án S) đã thể hiện rõ 02 thửa là thửa 179 và thửa 201; Thửa 179 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đứng tên trên bản đồ địa chính người sử dụng là bà B. Hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương theo Sổ mục kê thì thửa đất số 179, tờ bản đồ 14 diện tích 382m² thể hiện người đăng ký, kê khai sử dụng đất là bà B, ngoài ra không có giấy tờ đất đai nào khác”, là có căn cứ, HĐXX không chấp nhận yêu cầu của Luật sư P về việc cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu về các bản đồ địa chính qua các thời kỳ.
[3] Đối với quyền sử dụng đất diện tích 365m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 738839 ngày 21/5/2004 cấp cho vợ chồng ông D, bà N không thể hiện số thửa tờ bản đồ nào, không thể hiện giao đất hay công nhận QSDĐ, còn thửa đất số 201, tờ bản đồ 14, đo đạc năm 2007, diện tích 526m²(đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AN093982 ngày 09/12/2009 cho vợ chồng ông D, bà N) là Nhà nước công nhận QSDĐ nếu cộng diện tích 382m² của thửa 179 tờ bản đồ 14 có tổng diện tích 908m², không phù hợp với trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất tranh chấp. Mặc khác, quá trình sử dụng đất, bản thân ông D, bà N chỉ đăng ký kê khai QSDĐ tại thửa 201, không kê khai thửa 179. Bà B đã quản lý, sử dụng thửa đất 179 liên tục từ năm 2002 đến nay, đã kê khai, đăng ký và được đứng tên trong sổ địa chính, sổ mục kê và xây nhà ổn định từ năm 2002, không ai tranh chấp. Mặt khác, năm 2014 khi Nhà nước có chương trình hỗ trợ xây dựng hầm bioga đối với các hộ dân trên địa bàn xã A, UBND xã đã thông báo công khai đến các hộ dân, bà B đăng ký tại UBND xã và xây dựng công trình hầm bioga từ đó đến nay, gia đình ông D, bà N cũng không có ý kiến gì trong khi ông D, bà N có diện tích đất (thửa số 201) ở sát liền kề diện tích đất tranh chấp. Như vậy, có căn cứ xác định ông D, bà N đã không quản lý, sử dụng diện tích đất này; bà B quản lý, sử dụng ổn định từ năm 2002 đến nay. Khi cơ quan Nhà nước tiến hành đo đạc năm 2007 thì bà B là người đứng tên kê khai đối với toàn bộ thửa đất số 179.
[4] Về lời khai các đương sự liên quan đến việc cho ở nhờ, lấn chiếm theo giấy chuyển nhượng: Các bên đều thừa nhận có nội dung chuyển nhượng theo giấy chuyển nhượng là 110m²; Riêng diện tích đất còn lại từ ranh giới vách nhà cũ đến bụi tre (đo đạc thực tế 186,8m²) vợ chồng ông D cho rằng bà B lấn chiếm chứ không có bán cho bà B 5 phân vàng y và 800.000đ; mà cho rằng đó là số tiền bà B trả tiền hoa màu. Thấy rằng, tại thời điểm năm 2003 số tiền 5 phân vàng y và 800.000₫ mà để trả tiền hoa màu là không phù hợp thực tế, hơn nữa, trên phần diện tích còn lại nêu trên, vợ chồng bà B đã cất chuồng heo, xây lò bánh tráng và xây dựng công trình nhà bếp, nhà vệ sinh nên việc vợ chồng nguyên đơn cho rằng số tiền trên là tiền vợ chồng bà B trả tiền hoa màu là không phù hợp với thực tế. Do đó, lời khai của bà B là có căn cứ xác thực hơn. Tuy nhiên, việc các bên đương sự tự chuyển nhượng mà không có căn cứ gì để chứng minh việc xác lập quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản chuyển nhượng là không phù hợp quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm căn cứ về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất, xác định thửa đất số 179, tờ bản đồ 14 bà Trần Thị B là người đứng tên sử dụng đất hợp pháp, đất nằm trong khu dân cư, phù hợp với qui hoạch về đất ở và có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[5] Nguyên đơn kháng cáo không cung cấp được tài liệu chứng minh kháng cáo của mình là có căn cứ. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí: Nguyên đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn vợ chồng ông Trương Văn D, bà Trần Thị Thanh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; các điều điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 105, 107, 115, 161, 166, 221 của Bộ luật Dân sự; các điều 95, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; các điều 20, 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Điều 27, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn D, bà Trần Thị Thanh N buộc bà Trần Thị B trả lại diện tích đất 318m².
- [2] Chấp nhận yêu cầu của bị đơn Trần Thị B. Công nhận diện tích đất 382m² (đo đạc thực tế 318m² theo mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính số 442-2021 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp ngày 30/11/2021) thuộc thửa đất số 179, tờ bản đồ số 14 (đo đạc năm 2007) tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, có giới cận: phía Đông giáp đường đi vào đất ông Trương Văn D, phía Tây giáp đất ông Trương Văn Đ, phía Nam giáp đường đi, phía Bắc giáp đất ông Trương Văn D thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà Trần Thị B.
Bà Trần Thị B được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- [3] Về chi phí phí tố tụng: Ông Trương Văn D, bà Trần Thị Thanh N phải chịu 2.715.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng đất và 1.900.000 đồng chi phí định giá tài sản (đã nộp đủ).
- [4] Về án phí: Ông Trương Văn D, bà Trần Thị Thanh N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, tổng cộng 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng tại phiếu thu số 0003527 ngày 18/5/2021 và số 0010521 ngày 12/9/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên nên đã nộp đủ.
H lại cho bà Trần Thị B 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0005664 ngày 08/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
Bản án số 113/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 113/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ YC CÔNG NHẬN QSDĐ CÓ NGUỒN GỐC ÔNG BÀ ĐỂ LẠI NHƯNG ĐÃ CÂN ĐỐI CHO NĐ THEO NĐ 64 NHƯNG BĐ ĐÃ TRỰC TIẾP SD ỔN ĐỊNH TỪ 2002 NĐ KHÔNG TRANH CHẤP VÀ NĐ KHÔNG KÊ KHAI ĐẤT TC NÀY
