TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1128/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2023. V/v: Ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Văn Rồi.
2/ Ông Võ Văn Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 700/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 379/2023/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 290/2023/QÐST-HNGĐ ngày 11/8/2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoài P, sinh năm 1977. (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1973; (vắng mặt)
- Cùng thường trú: số C B, tổ B, ấp F, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài P trình bày:
Bà và ông Nguyễn Ngọc H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 71 ngày 01/7/2009.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau làm việc để phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên thời gian gần đây, vợ chồng ông bà liên tiếp xảy ra những bất đồng trong cuộc sống, liên tục xảy ra cải vả. Mặc dù đã được gia đình hai bên cùng chính quyền địa phương nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân hiện tại không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, Bà khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông H có một con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Phương L, sinh ngày 04/4/2010. Bà có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Bà và ông H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Bà và ông H không có nợ chung.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: bản sao Chứng minh nhân dân + hộ khẩu + giấy chứng nhận kết hôn + khai sinh con.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày:
Hai vợ chồng xây dựng gia đình vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và cả hai cùng tự nguyện. Sau khi cưới nhau vợ chồng ở với bố mẹ ông được 06 tháng, sau đó ông theo vợ về sống với bên vợ ở tổ B, ấp F, xã B, huyện C, đến năm 2012 vợ chồng ông mới ra ở riêng cho đến nay. Mâu thuẩn vợ chồng ông xảy ra khoảng 03 năm trở lại đây, nguyên nhân do vợ ông với chị em bên ông không thuận với nhau. Về quan hệ vợ chồng ông mong được đoàn tụ với vợ con. Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương L, sinh ngày 04/4/2010.
Tài sản chung của hai vợ chồng có ngôi nhà và hai chiếc xe phương tiện đi lại. Nhà thì ba mẹ vợ đứng tên, xe thì mỗi người đứng tên 01 chiếc. Tài sản tự thỏa thuận, không yêu cầu.
Nợ chung: không có.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, không thay đổi hay bổ sung gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H vẫn không đến Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.
[2] Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hoài P và ông Nguyễn Ngọc H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 1/2009, ngày 01/7/2009 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà P xin ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà P thì mâu thuẩn giữa bà với ông H là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân do ông H còn qua lại với vợ cũ, tự ý làm không hỏi ý kiến bà, không quan tâm vợ con,... Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông H không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương L, sinh ngày 04/4/2010. Xét yêu cầu của bà P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Phương L, trẻ L cũng có nguyện vọng ở với bà và hiện bà cũng là người trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung là trẻ Lam cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà P là không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ dân sự chung: Bà P, ông H cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- - Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài P.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Hoài P được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 1/2009, ngày 01/7/2009 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà P và ông H không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương L, sinh ngày 04/4/2010. Bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà P là không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H.
3. Về tài sản chung:
Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Nghĩa vụ dân sự chung:
Không có.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn:
là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thị Hoài P phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ ( ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/0017595 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vương |
Bản án số 1128/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1128/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
