|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1128/2024/HS-PT Ngày: 04 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Thu |
| Các Thẩm phán: | Bà Phạm Thị Duyên |
| Ông Cao Văn Tám |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 802/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 137/2024/HSST ngày 23 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Văn D sinh ngày 28 tháng 5 năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: B N, Khu phố F, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Tổ C, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Con ông: Lê Văn D1, sinh năm 1955 và bà Tạo Thị B, sinh năm 1956; Có vợ là Trần Ngọc Linh T sinh năm 1984 (đã ly hôn năm 2023) và có 01 con sinh năm 2008; Tiền án: Ngày 16/12/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và buộc Lê Văn D phải nộp 5.080.000 đồng sung công quỹ nhà nước, đã đóng án phí và nộp 5.080.000 đồng sung công quỹ nhà nước ngày 28/9/2015, chấp hành xong án phạt tù ngày 16/9/2020; Tiền sự: Ngày 03/5/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, chấp hành xong Quyết định ngày 03/01/2023.
Bị cáo bị bắt quả tang vào ngày 14/8/2023 và hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Đ. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Luật sư Nguyễn Quốc P – Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt
(Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Nguyễn Anh T1 không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Anh T1 và Lê Văn D là những đối tượng không có việc làm ổn định. Từ tháng 07/2023 đến ngày 14/8/2023, T1 đã 03 lần đi đến khu vực Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (không xác định địa chỉ) mua ma túy của 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch), sau đó mang về nơi ở tại Tổ C, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh rồi cùng với D xuống thành phố B bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T2, cụ thể như sau:
Vào tháng 07 và 08 năm 2023 (không nhớ ngày), Nguyễn Xuân T2 02 lần liên lạc với T1 hỏi mua 02 gói ma túy đá, khối lượng 20 gam, với số tiền 6.400.000 đồng. T1 đã liên hệ với người phụ nữ trên để mua 02 gói ma túy giá 5.600.000 đồng. Sau đó, T1 cùng với D đến nhà bán cho Nguyễn Xuân T2 (ở phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai); T1 thu lợi bất chính số tiền 800.000 đồng và đã sử dụng cá nhân hết.
Tiếp đến vào ngày 13/8/2023, Nguyễn Xuân T2 liên lạc với T1 hỏi mua 01 lạng ma tuý giá 32.000.000 đồng và 10 gam ma tuý khay giá 7.500.000 đồng và 55 viên ma túy (thuốc lắc). Khoảng 8 giờ sáng ngày 14/8/2023, T1 mua của người phụ nữ trên 01 lạng ma túy đá với số tiền 24.000.000 đồng, 01 gói ma túy khay 10 gam với số tiền 4.000.000 đồng, còn 55 viên ma túy T1 mang xuống cho T2 thử. Sau đó, T1 với D sử dụng xe mô tô biển số 59G3-170.86 đến nhà T2, khi gần đến nơi T1 đi vào quán cà phê “Cây Xanh” thuộc phường T, thành phố B; còn D đi vào nhà T2 để nắm tình hình trước khi bán ma túy. Khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, Công an thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Anh T1 và thu giữ: 01 hộp giấy màu đen, trong hộp giấy có: 01 gói nylon chứa chất màu trắng (Ký hiệu M1) có khối lượng: 99,6191 gam, loại: Methamphetamine; 01 gói nylon chứa chất màu trắng (Ký hiệu M4) có khối lượng: 10,0060 gam, loại: Ketamin; 01 gói nylon bên trong chứa 40 viên nén màu nâu (Ký hiệu M2) có khối lượng: 13,0016 gam, loại: Caffeine; 01 gói nylon bên trong chứa 15 viên nén màu xanh (Ký hiệu M3) có khối lượng: 4,4790 gam, loại: Acetaminophen và C; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 868574065451333, số sim: 0901.265.722; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21S, số Imei: 353996323288748, sim số 0969.002.312; 7.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển số: 59G3 – 170.86, số máy: JK03E2714551, số khung: RLHJK0348PY306842; 27.516.836 đồng trong tài khoản số 2080100374006, Ngân hàng M của Nguyễn Anh T1.
Ngoài ra, từ ngày 04/6/2023 đến ngày 10/8/2023, T1 đã nhiều lần đóng gói ma tuý rồi gửi shipper (người giao hàng) mang đến bán cho T2. Kiểm tra xác định số tiền trong tài khoản ngân hàng M 2080100374006 của T1 còn lại là 27.516.836 đồng, đây là tiền mà T1 bán ma túy cho Nguyễn Xuân T2 mà có.
Bị cáo Nguyễn Anh T1, Lê Văn D trong quá trình điều tra khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên.
* Kết luận giám định số 1818/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của phòng K Công an tỉnh Đ về số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Anh T1 kết luận:
- + Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 99,6191 gam, loại: Methamphetamine.
- + Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M4) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 10,0060 gam, loại: Ketamine.
- + Mẫu 40 viên nén màu nâu (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 13,0016 gam, loại: Caffeine.
- + Mẫu 15 viên nén màu xanh (Ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 4,4790 gam, loại: Acetaminophen và C.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 137/2024/HS-ST ngày 23/07/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
- - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh T1, Lê Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Văn D 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về hình phạt của bị cáo Nguyễn Anh T1; việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 08/08/2024, bị cáo Lê Văn D kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 137/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- * Bị cáo Lê Văn D vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
- * Luật sư bào chữa cho bị cáo D đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có vai trò đồng phạm thứ yếu, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đang nuôi con nhỏ, bản thân bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày ý kiến:
- - Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
- - Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ chứng cứ và tuyên hình phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn D là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn D làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để xác định: Từ tháng 07/2023 đến ngày 14/8/2023, Nguyễn Anh T1 và Lê Văn D đã ba lần mua ma túy của người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) ở Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 33.600.000 đồng. Sau đó, T1 và D mang đến nhà bán cho Nguyễn Xuân T2 (ở phường T, thành phố B) để bán. Lần thứ nhất, vào giữa tháng 07/2023, T1 mua 01 gói ma túy đá khối lương 10 gam giá 2.800.000 đồng, T1 đã cùng với D mang đến bán cho Nguyễn Xuân T2 với giá 3.200.000 đồng. Lần thứ hai, vào giữa tháng 08/2023, T1 mua 01 gói ma túy đá khối lượng 10 gam giá 2.800.000 đồng, cùng với D mang đến bán cho Nguyễn Xuân T2 với giá 3.200.000 đồng. Lần thứ ba, vào ngày 14/8/2023, T1 mua 01 lạng ma túy đá của người phụ nữ trên với số tiền 24.000.000 đồng và 01 gói ma túy khay 10 gam với số tiền 4.000.000 đồng. Sau đó, T1 với D mang đến nhà bán cho Nguyễn Xuân T2 thì bị Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy khối lượng 99,6191 gam, loại Methamphetamine và 10,0060 gam, loại Ketamine.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm và đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của cộng đồng, tác động rất xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Anh T1 và Lê Văn D, mỗi bị cáo 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn D thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo D đang bị bệnh hiểm nghèo; bị cáo gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn D là người bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, là thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Trong vụ án này, tuy bị cáo T1 là người chủ động mua túy đem về và cùng với bị cáo D đem đi bán, nhưng bị cáo D lại là người có tiền án, tiền sự nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 20 năm tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn D.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo D tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn D; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 137/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về phần trách nhiệm của bị cáo Lê Văn D như sau:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Văn D 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn D để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
| Các Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Phạm Thị D2 – C | Bùi Thị T3 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu |
Bản án số 1128/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 1128/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn D; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 137/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về phần trách nhiệm của bị cáo Lê Văn D
