Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 1126/2023/HNGĐ-PT

Ngày: 04/12/2023

V/v "Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh
  • Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Duyên
  • Bà Lưu Thị Thủy Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 2199/2023/HNGĐ-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5151/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương K, sinh năm: 1989

Địa chỉ: C, Hẻm F, đường M, khu C, Tổ A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm: 1990

Địa chỉ: Số nhà A đường M, Tổ G, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Ông Lê Hữu T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị Phương K và ông Lê Hữu T sống chung với nhau từ năm 2018 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào ngày 16/03/2018 theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/03/2018. Bà Nguyễn Thị Phương K và ông Lê Hữu T chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mẩu thuẩn. Nguyên nhân là do tính tình hai bên không hòa hợp, không ai hiểu ai, thường xuyên cải nhau. Bà Nguyễn Thị Phương K có gắng chịu đựng vì con và gia đình hai bên cũng đứng ra hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến nay nhận thấy tình cảm hai bên không thể kéo dài. Nay bà Nguyễn Thị Phương K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Hữu T.

Về con chung: Có 02 con chung: tên Lê Hữu P, sinh ngày 14/02/2020 và Lê Hữu T1, sinh ngày 28/11/2021 bà Nguyễn Thị Phương K yêu cầu được nuôi 02 con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Ông Lê Hữu T thống nhất quan điểm về trình bày của bà K về quan hệ hôn nhân và ông đồng ý ly hôn với bà K.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có.

Về con chung: Ông yêu cầu được nuôi con chung tên Lê Hữu P, sinh ngày 14/02/2020 và đồng ý giao con chung tên Lê Hữu T1, sinh ngày 28/11/2021 cho bà Nguyễn Thị Phương K, đôi bên không yêu cầu cấp dưỡng qua lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 2199/2023/HNGĐ-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

“... Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương K và ông Lê Hữu T.

Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/03/2018 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Phương K và ông lê Hữu T2 không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Hữu P, sinh ngày 14/02/2020 và Lê Hữu T1, sinh ngày 28/11/2021 cho bà Nguyễn Thị

Phương K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.”

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.

Ngày 10/7/2023, ông T2 kháng cáo yêu cầu bác một phần bản án sơ thẩm. Giao trẻ Lê Hữu P, sinh ngày 14/02/2020 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng vì ông có đủ điều kiện nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Ông Lê Hữu T trình bày:

Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Bà Nguyễn Thị Phương K1 trình bày:

Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Ông T kháng cáo đúng thời hạn luật định.

Về nội dung kháng cáo: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Hữu T, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2199/2023/HNGĐ-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của ông Lê Hữu T làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Lê Hữu T về việc giao trẻ Lê Hữu P, sinh ngày 14/02/2020 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng:

2.1 Về con chung: Tại phiên tòa phúc thẩm ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Hữu P với lý do bà K không đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc và nuôi dưỡng hai trẻ. Về phía bà K trình bày, tại thời điểm xét xử sơ thẩm thì trẻ P do ông T dắt về nuôi nhưng ông không trực tiếp nuôi dưỡng mà đem trẻ về quê cho cha mẹ ông nuôi và hiện cha mẹ ông T đã lớn tuổi.

Xét thấy ông T và bà K đều có đầy đủ khả năng về vật chất và tinh thần để nuôi dạy trẻ P tốt như nhau. Tuy nhiên, trẻ P hiện mới hơn 3 tuổi nên rất cần sự bảo bọc, chăm sóc của người mẹ, hai con của ông T và bà K đều là bé trai nên việc hai trẻ sống trong cùng một mái nhà, trong vòng tay thương yêu của người mẹ sẽ đảm bảo sự phát triển ổn định về mặt tâm sinh lý. Đối với ông T nếu lo lắng con chung thiếu thốn về vật chất thì ông cũng có quyền chu cấp cho con nếu ông muốn và trong trường hợp ông có đủ chứng cứ chứng minh bà K nuôi dạy con không tốt thì ông có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn trong một vụ án khác. Bản án sơ thẩm quyết định giao trẻ P cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là có căn cứ.

Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu T.

2.2 Về cấp dưỡng: Bà K không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Cấp sơ thẩm nhận định về tài sản chung và nợ chung, tuy nhiên phần quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

[3] Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

  1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 2199/2023/HNGĐ-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương K và ông Lê Hữu T.

    Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/03/2018 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Phương K và ông lê Hữu T2 không còn giá trị pháp lý.

    Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Hữu P, sinh ngày 14/02/2020 và Lê Hữu T1, sinh ngày 28/11/2021 cho bà Nguyễn Thị Phương K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

    Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông T2 do bà K không có yêu cầu.

    Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

  • Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

    Các bên thi hành dưới sự giám sát của Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên xác nhận không có.

  1. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: BàNguyễn Thị Phương Khanh chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bàNguyễn Thị Phương Khanh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0007963 ngày 10/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. _IN BàNguyễn Thị Phương Khanh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Hữu T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0004364 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Lê Hữu T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các

Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM
  • - TAND Q. Bình Tân;
  • - VKSND Q. Bình Tân;
  • - Chi Cục THADS Q. Bình Tân;
  • - UBND xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: TGĐ, hồ sơ, (20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Thị Bích Duyên Lưu Thị Thủy Tiên

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1126/2023/HNGĐ-PT ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1126/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho LH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger