Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 31/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*Tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh) gồm có:

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê TườngLinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Mai.
2. Bà Châu Thị Lệ .

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thục Đoan– Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.

*Tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam C - Cơ sở T9; Địa chỉ: Xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) gồm có:

  • -Ông Nguyễn Minh T – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
  • -Bà Quách Diệp Nguyệt T1 – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp . (Có mặt).

Ngày 31 tháng 05 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/HSST ngày 07/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 17/05/2024 đối với bị cáo:

Thái Vũ T2; Giới tính: Nam; sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: A N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Thái Ngọc T3 (đã chết) và bà Vũ Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Hồ Ngọc Thanh T4, có 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: (1) Ngày 09/06/2009, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 961/HSPT. (2) Ngày 29/10/2014, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 03 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 279/HSST; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 11/09/2023 (có mặt).

Bị hại: Bà Lê Thiên Bích T5; sinh năm 2001; Địa chỉ: C N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Thái Thị Ngọc T6; Sinh năm: 1994; Nơi cư trú: Số A đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 11/9/2023, Thái Vũ T2 sau khi uống rượu đã một mình điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số: 51R3 – 7190 để về nhà trên đường N. Khi đến trước địa chỉ số A đường N, Phường C, quận G, Thái Vũ T2 thấy chị Lê Thiên Bích T5 (Sinh năm: 2001; Nơi thường trú: số B đường N, thị trấn chợ L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: số A đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng cạnh lề đường, trên tay đang cầm một chiếc điện thoại di động. Lúc này Thái Vũ T2 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của chị Lê Thiên Bích T5 nên Thái Vũ T2 điều khiển xe mô tô áp sát vào chị Lê Thiên Bích T5 đang đứng và dùng tay trái giật lấy chiếc chiếc điện thoại. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Thái Vũ T2 tăng ga xe mô tô bỏ chạy vào hẻm S đường N, Phường C, quận G. Chị Lê Thiên Bích T5 bị Thái Vũ T2 giật chiếc điện thoại di động liền truy hô “cướp, cướp” và cùng một số người dân chạy đuổi theo, khi Thái Vũ T2 điều khiển xe mô tô trên chạy đến trước địa chỉ số B đường N, Phường C, quận G thì bị người dân khống chế bắt giữ, đưa Thái Vũ T2 cùng vật chứng vụ án về trụ sở Công an P, quận G lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục: 128 – 129).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đồng, dung lượng 64GB, có số Imeil: 35671708273697.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số 51R3 – 7190.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận G, kết luận 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 plus, dung lượng 64GB đã qua sử dụng tại thời điểm định giá ngày 11/9/2023 có giá trị là 3.100.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đồng, dung lượng 64GB, có số Imei1: 35671708273697. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả cho bị hại là chị Lê Phan Bích T7.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số 51R3 – 7190, chiếc xe mô tô này do anh Nguyễn Thanh H1 (Sinh năm: 1981; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số 79/2/9 Đường số B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu, anh Nguyễn Thanh H1 mua vào năm 2011. Năm 2016, anh Nguyễn Thanh H1 cho chị Thái Thị Ngọc T6 (Sinh năm: 1994; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số A đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là em gái của Thái Vũ T2) chiếc xe mô tô và giấy đăng ký xe để làm phương tiện đi học. Tháng 3/2021, chị Thái Thị Ngọc T6 cho Thái Vũ T2 chiếc xe trên sử dụng làm phương tiện đi lại. Việc Thái Vũ T2 sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện cướp giật tài sản, chị Thái Thị Ngọc T6 và anh Nguyễn Thanh H1 không biết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Về bồi thường trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thiên Bích T5 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Thái Vũ T2.

Tại bản cáo trạng số 117/Ctr-VKS ngày 23/04/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Thái Vũ T2 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Thái Vũ T2 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • - Trả lại cho bà Thái Thị Ngọc T6 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số 51R3 – 7190.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Thái Vũ T2 đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Thái Vũ T2 phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 171 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Thái Vũ t sử dụng phương tiện xe gắn máy để đi cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội, vì hành vi này có thể xâm hại đến sức khỏe tính mạng của người bị hại và chính bản thân của bị cáo, có thể gây ra tai nạn làm chết người, gây mất trật tự an toàn giao thông, bị cáo sử dụng xe máy đi cướp giật điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, phù hợp với qui định pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua lại, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử lý hình sự về tội cướp giật tài sản, nay lại tiếp tục phạm tội cướp giật tài sản, nên cần phải xử lý nghiêm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà hôm nay, người bị hại bà Lê Thị Bích T8 vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại..

[7] Về xử lý vật chứng

- Đối với chiếc xe gắn máy đã qua sử dụng hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số 51R3 – 7190 qua xác minh do anh Nguyễn Thanh H1 đứng tên sở hữu, anh H1 cho bà Thái Thị Ngọc T6 chiếc xe trên để làm phương tiện đi học, bị cáo T2 mượn xe của bà T6 đi công việc, Bà T6 không biết bị cáo T2 xử dụng xe trên làm phương tiện đi cướp giật tài sản, Bà T6 có đơn yêu cầu xin nhận lại chiếc xe trên. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có nguồn gốc rõ ràng, nên quyết định trả lại cho bà Thái Thị Ngọc T6 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số 51R3 – 7190.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Thái Vũ T2 phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Xử phạt bị cáo Thái Vũ T2 04(bốn) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 11/09/2023.

Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Trả lại cho bà Thái Thị Ngọc T6 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, mang biển số 51R3 – 7190.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 104/PNK ngày 13/05/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM.
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỒI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Vũ T2 phạm tội “Cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger