|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2024 Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, nợ chung". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRỊ, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ton;
Ông Nguyễn Văn Hớn;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, nợ chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐST – HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số A ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bà Nguyễn Thị D có đề xin xét xử vắng mặt đề ngày 22/7/2024.
- - Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Địa chỉ: Số A ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Địa chỉ: Số G ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình tổ tụng sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T kết hôn vào ngày 28 tháng 12 năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến tháng 01 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay, bà và ông Phạm Văn T sống ly thân không hàn gắn tình cảm được từ thời điểm đó cho đến nay. Nay, bà cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, bà yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T.
- - Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T có với nhau 02 con chung Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004; Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006. Khi ly hôn, cháu Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, cháu Phạm Tường V1 đang sống chung với bà. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006 và không yêu cầu ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Bà và ông Phạm Văn T còn nợ bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hồng N không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án nên bà D không có ý kiến.
* Tại bản tự khai của đương sự đề ngày 11/01/2024, bị đơn ông Phạm Văn T trình bày như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Diễm c nhau gần 20 năm và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông thường xuyên uống rượu say dẫn đến ông và bà D thường xuyên cãi vả. Nay, bà D yêu cầu ly hôn với ông, ông còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn với bà D.
- - Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà D có với nhau 02 con chung Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004; Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006. Khi ly hôn, ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006. Con chung Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Ông và bà D có nợ chung số tiền 100.000.000 đồng. Nợ của ai ông không nhớ rõ.
* Tại đơn xin trình bày ý kiến và từ chối tham gia tố tụng đề ngày 30/5/2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày:
Vào năm 2023, bà có cho vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T vay số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Mục đích vay tiền để đóng học phí cho cháu Phạm Yến V. Do bà Nguyễn Thị D và cháu Phạm Yến V đã cam kết trả nợ cho bà. Do đó, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn, bị đơn có chấp hành tốt.
- - Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị D đối với ông Phạm Văn T.
- + Về con chung: Ghi nhận cháu Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004; Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006 đã trưởng thành.
- + Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị D, ông Phạm Văn T khai thống nhất không có nên không xét đến.
- + Về nợ chung: Ghi nhận người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục: Bà Nguyễn Thị D vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng N có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà D, ông T là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến tháng 01 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm và vợ chồng ly thân từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay, không hàn gắn được tình cảm. Dù ông T không đồng ý ly hôn, Tòa án đã tiến hành mời ông T để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T không đến dự. Điều đó cho thấy ông T không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với bà D, chứng tỏ hôn nhân giữa bà D và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà D yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm
[3] Về con chung:
Bà Nguyễn Thị D khai và ông Phạm Văn T khai thống nhất, quá trình chung sống có với nhau 02 người con chung là Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004; Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006. Hiện nay, các con chung của bà D và ông T đều đã thành niên, có khả năng lao động Hội đồng xét xử không xét đến.
[4] Về tài sản chung:
Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[5] Về nợ chung:
Ghi nhận những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí:
Về án phí hôn nhân sơ thẩm bà Nguyễn Thị D phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị D ly hôn với ông Phạm Văn T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 100 ngày 28/12/2006 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Quá trình sống chung, bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T có 02 con chung, cháu Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004; Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành niên có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về nợ chung: Ghi nhận bà Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001428 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, bà D đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bà Nguyễn Thị D, ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, nợ chung
- Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, nợ chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị D ly hôn với ông Phạm Văn T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 100 ngày 28/12/2006 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Quá trình sống chung, bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T có 02 con chung, cháu Phạm Yến V, sinh ngày 26/7/2004; Phạm Tường V1, sinh ngày 21/06/2006. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành niên có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét đến. 3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến. 4. Về nợ chung: Ghi nhận bà Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. 5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001428 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, bà D đã nộp đủ án phí.
