Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

 

Ngày: 29 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Tuyết

Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lý Minh C, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B Phó C, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 3 L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 01/12; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đàm Déch D; con bà: Lý Lệ D1; Có vợ tên: Nguyễn Ngọc T (chưa đăng ký kết hôn); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/6/2014 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 01/9/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 26/12/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 (hai mươi mốt) tháng, đến ngày 12/6/2018 đã chấp hành xong hình phạt; Ngày 31/7/2019 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 17/11/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 04/10/2023 bị Công an P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sư đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên ngày 07/7/2023 Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đình chỉ việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
  3. Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1994 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 5 B, Phường 1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 3 L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Vĩnh T1; con bà: Nguyễn Hồng N(Nguyễn Thị Hồng H); Có chồng tên Lý Minh C (chưa đăng ký kết hôn); Có 06 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/11/2012 bị Ủy ban nhân dân Quận H3, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 17/01/2014 chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được trả tự do và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Hòa C1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 79/4 tổ G, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Lê Văn B, sinh năm 1998; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 77/6 đường K, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Phòng số 2, nhà T, ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 11/01/2024, Tổ Công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q đang trên đường tuần tra đến trước số A C, Phường A, Quận E thì phát hiện Lý Minh C đang dừng xe mô tô biển số 50Y1 - 28105 phía sau chở Nguyễn Ngọc T có biểu hiện nghi nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ 01 gói ma túy của T đang cầm trên tay. Trầm khai là ma túy của C (chồng T) đưa cho T cầm giữ để cả hai bán lại cho người mua nên Tổ công tác đưa C, T cùng vật chứng về trụ sở Công an P1, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý theo thẩm quyền.

Mở rộng điều tra vào lúc 19 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét nơi ở của C và T (nhà thuê) tại địa chỉ số C L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện trên bàn để vật dụng cá nhân có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nên tiến hành thu giữ.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo C và T khai nhận: Khoảng cuối năm 2021, T với C sinh sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn). Trước đó, cả hai đã sử dụng ma túy, đến khoảng tháng 9/2023, do không có tiền nuôi con nhỏ, sinh hoạt gia đình và cần có tiền mua ma túy để T, C sử dụng nên C rủ T cùng mua bán trái phép chất ma túy kiếm tiền lời, thì T đồng ý. Khoảng đầu tháng 01/2024, C quen biết với người phụ nữ tên “Thùy” qua mạng Facebook. Qua trao đổi, C biết “Thùy” có bán ma túy nên C liên lạc với “Thùy” để mua ma túy bán lại cho người mua. Khoảng 21 giờ ngày 10/01/2024, có người phụ nữ tên “Nguyễn K” liên lạc với C đặt mua ma túy nên C liên lạc với “Thùy” mua 1.200.000 đồng ma túy, sau đó báo lại cho “Nguyễn K” là 1.300.000 đồng (Chí hưởng lợi 100.000 đồng) “Nguyễn Kim” đồng ý, C hẹn giao ma túy cho “Nguyễn Kim” tại trước số A C, Phường A, Quận E. Việc liên lạc bán ma túy cho Nguyễn K, Chí báo lại cho T biết và rủ T cùng T2 đi bán ma túy cho “Nguyễn Kim” thì T đồng ý. Chí điều khiển xe mô tô biển số 50Y1 – 28105 chở T đi gặp “Thùy” lấy 01 gói ma túy với giá 1.200.000 đồng và trả tiền mặt cho “Thùy”. Chí đưa gói ma túy cho T cầm trên tay rồi chở T đi bán cho “Nguyễn K”. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 11/01/2024, cả hai điều khiển xe mô tô đến trước số A C, Phường A, Quận E rồi dừng xe đứng chờ “Nguyễn Kim” đến để giao ma túy lấy tiền thì bị Tổ Công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.

Ngoài ra, C và T còn khai nhận: Từ khoảng tháng 9/2023 đến ngày bị bắt, T và Chí bán ma túy cho khách ở khu vực Quận F và Quận B (không nhớ địa chỉ cụ thể, lai lịch người mua) được khoảng 06 lần, mỗi lần thấp nhất 300.000 đồng, cao nhất 1.300.000 đồng. Tất cả những lần mua bán ma túy mà T đi cùng C đều do C rủ đi và C có nhiệm vụ chở T đến địa điểm mua bán, liên lạc với người mua đến, còn T trực tiếp giao ma túy và lấy tiền từ người mua, mỗi lần bán ma túy thu lợi nhuận thấp nhất 50.000 đồng, cao nhất 200.000 đồng. Số tiền bán ma túy như trên Trầm, C sử dụng mua sữa cho con nhỏ, ăn uống và chi cho sinh hoạt gia đình hết. Nguồn ma túy để bán cho khách là đều do C trực tiếp đi mua đối tượng tên “Nguyên” và “Thùy (đều không rõ lai lịch, số điện thoại).

Tiến hành test nhanh ma túy đối với T, C đều cho kết quả “dương tính”.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Minh C, Nguyễn Ngọc T và hình dấu Công an P1, Quận E (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4785g (hai phẩy bốn bảy tám năm gam), loại Methamphetamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 427/24-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 (PC09) và điều tra viên Võ Chí H2); 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Minh C, Nguyễn Ngọc T và hình dấu Công an phường T, quận B (ký hiệu mẫu m) có khối lượng 9,9265g (chín phẩy chín hai sáu năm gam), không tìm thấy ma túy (số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1272/24 (435/24)-gói 2. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T3 (PC09) và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T4); 01 (một) biển số xe gắn máy 50Y1-281.05; 01 (một) xe gắn máy hiệu Suzuki, số khung: 11AZKJ 193557, số máy: CGA1ID193509; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, không kiểm tra được số Imei do không mở được khóa (Lý Minh C không cung cấp mật khẩu); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 861560045398410; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 8611520583366557; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 862794052840399; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei: 862101049636858; 01 (một) túi nylon màu xám trắng.

Tại bản Kết luận giám định số: 1255/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Minh C, Nguyễn Ngọc T và hình dấu Công an P1, Quận E (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4785g (hai phẩy bốn bảy tám năm gam), loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số: 1272/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Minh C, Nguyễn Ngọc T và hình dấu Công an phường T, quận B (ký hiệu mẫu m) có khối lượng 9,9265g (chín phẩy chín hai sáu năm gam), không tìm thấy ma túy.

Bản cáo trạng số: 93/CT-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lý Minh C và Nguyễn Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lý Minh C và Nguyễn Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lý Chí M với mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s, n Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáp Nguyễn Ngọc T với mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa công khai, các bị cáo Lý Minh C và Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận như sau: Các bị cáo Lý Chí M và Nguyễn Ngọc T đã có hành vi mua chất ma túy nhằm bán lại cho người khác để hưởng khoản tiền chênh lệch, Cơ quan Công an đã bắt quả tang thu giữ chất ma túy mà các bị cáo sử dụng vào việc mua bán với khối lượng 2,4785g (hai phẩy bốn bảy tám năm gam), loại Methamphetamine và đã thực hiện việc mua bán ma túy 02 lần trở lên. Do đó, hành vi của bị cáo Lý Minh C và Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi.

Xét đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong vụ án này bị cáo C là người khởi xướng và là người trực tiếp mua ma túy và bán ma túy; bị cáo T là người giúp sức, giúp cất giữ ma túy và cùng đi mua và bán ma túy với bị cáo C.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Riêng bị cáo T5 phạm tội là phụ nữ có thai; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo T5 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm n Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để các bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
  4. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  5. Về tiền thu lợi bất chính: Xét tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi mua bán ma túy nhiều lần có được hưởng lợi nhưng không xác định được số tiền hưởng lợi vì đã tiêu xài cá nhân và mua sữa cho con các bị cáo hết nên Hội đồng xét xử không có cở sở để xem xét buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.
  6. Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  7. Đối với tên “Nguyên” và “Thùy” là đối tượng bán ma túy cho bị cáo C và tên “Nguyễn K” là đối tượng mua ma túy của bị cáo C. Hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xem xét xử lý sau.

Đối với 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Minh C, Nguyễn Ngọc T và hình dấu Công an phường T, quận B (ký hiệu mẫu m) có khối lượng 9,9265g (chín phẩy chín hai sáu năm gam), không tìm thấy ma túy. Bị cáo T khai là do T mua của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) trên đường H, Quận H nhưng sau đó T phát hiện là ma túy giả nên cất giữ vào túi nylon màu xám trắng để vứt bỏ nhưng chưa vứt bỏ thì bị Công an phát hiện. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý về hành vi này.

  1. Về xử lý vật chứng:

    01 (một) gói niêm phong số 427/24-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 (PC09) và điều tra viên Võ Chí H2 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 1272/24 (435/24)-gói 2. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T3 (PC09) và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T4 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) túi nylon màu xám trắng. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

    Xét 01 (một) biển số 50Y1-281.05 có số trùng với số chiếc xe của ông Nguyễn Hòa C1, tuy nhiên hiện nay ông C1 vẫn đang sử dụng xe và biển số nêu trên, Hội đồng xét thấy chiếc biển số trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

    Xét 01 (một) xe gắn máy hiệu Suzuki, số khung: 11AZKJ 193557, số máy: CGA1ID193509 do ông Lê Văn B đứng tên chủ sở hữu, ông B khai bị mất trộm khi đến nhà bạn chơi tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên cần giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương biết và chuyển giao vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

    Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, không kiểm tra được số Imei do không mở được khóa (Lý Minh C không cung cấp mật khẩu) là tài sản cá nhân của bị cáo Lý Minh C, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo C.

    Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 861560045398410; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 8611520583366557; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 862794052840399 là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Ngọc T, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo T.

    Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei: 862101049636858 là tài sản cá nhân của bị cáo Lý Minh C, sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.

  2. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lý Minh C 08 (tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024.

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s, n Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 07 (bảy) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ trước đây từ ngày 11/01/2024 đến ngày 12/01/2024.

Căn cứ điểm a, b, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2; điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy:01 (một) gói niêm phong số 427/24-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 (PC09) và điều tra viên Võ Chí H2 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 1272/24 (435/24)-gói 2. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T3 (PC09) và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T4 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) túi nylon màu xám trắng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, số I: 862101049636858.

Trả lại cho bị cáo Lý Minh C: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, không kiểm tra được số Imei do không mở được khóa (Lý Minh C không cung cấp mật khẩu).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 861560045398410; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 8611520583366557; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số I: 862794052840399.

Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh 01 (một) xe gắn máy hiệu Suzuki, số khung: 11AZKJ 193557, số máy: CGA1ID193509 để xử lý theo quy định pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Minh C và đồng phạm-Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger