|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST
Ngày 29/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình, bà Đào Thị Vân.
- -Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 28/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Bá U, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1954 và con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con út; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại quyết định số 401 ngày 20/3/2012 của Chủ tịch UBND huyện Y quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường G đối với Nguyễn Bá U về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/2/2013 U đã chấp hành xong và trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
* Bị hại: Anh Nguyễn Năng N, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Văn D, sinh năm 1988;
trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (xin xét xử vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
- Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
(Đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 28/4/2024, anh N gọi điện thoại cho U rủ U đi hát karaoke, U đồng ý. Sau đó anh N điều khiển xe mô tô điện nhãn hiệu Vinfast màu đen, biển kiểm soát: 99D1-552.03 đón U đến quán K" ở thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Uyên hát karaoke cùng anh N đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/4/2024 thì rủ anh N về nhưng anh N bảo U về trước, U nói với anh N cho U mượn xe mô tô điện, đến hôm sau sẽ mang xe về trả, anh N đồng ý. Sau khi mượn được xe mô tô điện của anh N, do không có tiền chi tiêu nên U nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe mô tô điện của anh N. U điều khiển xe mô tô điện trên đến quán cầm đồ "Dũng Lương T2" của anh Lương Văn D để cầm cố chiếc xe mô tô điện. Anh D1 đồng ý cầm cố chiếc xe mô tô điện trên và đưa cho U 10.000.000 đồng. Số này U đã chi tiêu cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: “01 xe máy điện nhãn hiệu Vinfast màu đen mang BKS 99D1-552.03 có số khung RPXP1LHHVPE051059, số máy VFHCEAD230919D0179 đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 4/2024 là: 10.000.000 đồng”.
Tại Bản Cáo trạng số 108/CT-VKSYP ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá U về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo U khai: Bị cáo mượn xe mô tô điện nhãn hiệu Vinfast màu đen, biển kiểm soát: 99D1-552.03 của anh N để đi về nhà, hẹn sẽ quay lại trả xe cho anh N. Do không có tiền chi tiêu nên bị cáo đã mang xe mô tô đi cầm cố cho anh Lương Văn D. Bị cáo đã nói với anh D là xe của bị cáo, giấy tờ xe để ở nhà, anh D nhận cầm cố xe mô tô và đưa cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là anh Nguyễn Năng N vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Khoảng 00 giờ ngày 29/4/2024, anh N cho bị cáo U mượn mô tô điện nhãn hiệu Vinfast màu đen, biển kiểm soát: 99D1-552.03 để đi về nhà, hẹn sẽ quay lại trả xe. Trong ngày 29/4/2024, anh N liên lạc nhiều lần để U trả xe nhưng U nói là đã mang xe đi cầm cố, chưa có tiền chuộc xe nên anh N làm đơn trình báo Công an. Anh N đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo U.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lương Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh D1 nhận cầm xe mô tô điện nhãn hiệu Vinfast màu đen, biển kiểm soát: 99D1-552.03 của U và đưa cho U số tiền 10.000.000 đồng. Anh D1 đã giao nộp xe mô tô cho Cơ quan Công an để trả cho bị hại. Bị cáo U đã bồi thường cho anh D1 số tiền 5.000.000 đồng, nay anh D1 yêu cầu U phải trả cho số tiền 5.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá U phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- -Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Bá U từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lương Văn D số tiền 5.000.000 đồng.
- - Về vật chứng: Không có.
- Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo U.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo U thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Bá U đã có hành vi mượn xe mô tô điện nhãn hiệu Vinfast màu đen, biển kiểm soát: 99D1-552.03 của anh Nguyễn Năng N. Sau khi được anh N cho mượn xe mô tô, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô nên đã mang cầm cố xe mô tô cho anh Lương Văn D.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt trị giá 10.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú, bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 20/3/2012 của Chủ tịch UBND huyện Y quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường G đối với Nguyễn Bá U về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/2/2013 U đã chấp hành xong và trở về địa phương nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cải tạo cho bản thân mà tiếp tục phạm tội.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không tài sản và không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Năng N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Anh Lương Văn D đã nhận cầm cố xe mô tô và đưa cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho anh D số tiền 5.000.000 đồng. Anh Dũng yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh D số tiền 5.000.000 đồng. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh D số tiền 5.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Không có.
- Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo U.
- [3] Những vấn đề khác: Đối với anh Lương Văn D nhận cầm cố chiếc xe mô tô điện Vinfast màu đen mang BKS 99D1-552.03, anh D có giấy phép đăng ký kinh doanh hộ cá thể, anh D biết thuộc sở hữu của người khác nhưng vẫn nhận cầm cố. Do vậy Ủy ban nhân dân huyện Y ra Quyết định xử phạt hành chính với anh Lương Văn D dưới hình thức phạt tiền về hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” là phù hợp.
- [4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá U phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá U 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Bá U 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lương Văn D số tiền 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về vật chứng: Không có.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo U.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá Uyên - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
