Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 27/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Thắng và bà Nguyễn Thị Hoài Như.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 25/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 14/8/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức N; Sinh ngày: 25 tháng 4 năm 1981, tại: tỉnh Quảng Trị; tên gọi khác: Gô; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố A, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn Đức N1 và con bà Nguyễn Thị Kim A (đã chết); Gia đình có 04 anh, em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có;

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 14/12/1995 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị tuyên xử 06 tháng tù treo, thử thách 12 tháng về tội “Hiếp dâm”.
  • + Ngày 05/11/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 10/02/2011).
  • + Ngày 28/3/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 07/6/2012).
  • + Ngày 05/11/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 20/4/2024).
  • + Ngày 13/6/2020, bị Công an P, thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với mức phạt tiền 1.500.000 đồng.
  • + Ngày 04/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 15/9/2021).

Bị caó Nguyễn Đức N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 29/3/2024 đến ngày 07/4/2024, sau đó chuyển “Tạm giam” tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn N2, sinh năm 1985; trú tại: Khu phố E, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • - Anh Đỗ Xuân C, sinh năm 1965; trú tại: Khu phố F, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 26/3/2024, Nguyễn Đức N mua ma túy của một người phụ nữ tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực chân cầu Đ về để sử dụng và bán kiếm lời. Vào sáng ngày 29/3/2024, N đang ở nhà tại khu phố A, phường A, thành phố Đ thì Nguyễn N2 (tên gọi khác là “Noa”, sinh năm 1985, trú tại khu phố E, phường E, thành phố Đ) đến nhà gặp N và hỏi mua 01 “tép” ma tuý Heroin. N đồng ý bán với giá 200.000 đồng và đưa cho N2 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroin. Đến 13 giờ 12 phút cùng ngày, Đỗ Xuân C (sinh năm 1965, trú tại khu phố F, phường A, thành phố Đ) sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0836741234 nhắn tin vào số thuê bao 0822144246 của N hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroin. N đồng ý bán, sau đó nhắn tin hẹn C đến nhà mình lấy ma túy. Cảnh liền điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F2-6432 đến trước cửa nhà N, C đưa tiền vào trong khe cửa rồi nhận lại 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroin. Đến khoảng 15 giờ 25 phút cùng ngày, N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức N tại khu phố A, phường A, thành phố Đ, N đã tự nguyện giao nộp số ma túy cất giấu tại nhà mình.

Tại Kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu các cục, hạt, bột màu trắng (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu M) gửi đến giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin); khối lượng mẫu là 3,7784g.

Tại Kết luận giám định số 556/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu chất rắn (dạng cục, hạt, bột) màu trắng (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MT) gửi đến giám định là ma túy; loại Heroin; khối lượng mẫu là 0,0697g.

Tại Kết luận giám định số 585/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn màu trắng dạng hạt, cục, bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định là ma túy; loại Heroin (Heroin); khối lượng mẫu là 0,0620g.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Đức N thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy cất giấu tại nhà cho Cơ quan điều tra.

Đồ vật thu giữ gồm:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 356571085861748, màn hình cảm ứng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
  • + 01 tờ tiền Polyme do Ngân hàng N3 phát hành có mệnh giá 200.000 đồng;
  • + 06 tờ tiền Polyme do Ngân hàng N3 phát hành có mệnh giá 100.000 đồng;
  • + 04 tờ tiền Polyme do Ngân hàng N3 phát hành có mệnh giá 50.000 đồng;
  • + 06 tờ tiền Polyme do Ngân hàng N3 phát hành có mệnh giá 20.000 đồng;
  • + 20 tờ tiền Polyme do Ngân hàng N3 phát hành có mệnh giá 10.000 đồng;
  • + 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa cục, hạt, bột màu trắng (nghi là ma túy);
  • + 01 vỏ gói thuốc lá điếu hiệu Thăng Long;
  • + 01 gói bên ngoài được quấn bởi 02 đoạn băng dính màu đen, bên trong có 04 lớp giấy màu trắng có các kích thước gồm: tờ 01 kích thước (7,7x7,5)cm, tờ 02 kích thước (8x6,5)cm, tờ 03 kích thước (7,7x6,7)cm, tờ 04 kích thước (6,5x6,5)cm bên trong tờ giấy cuối cùng có chứa cục, hạt, bột màu trắng.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSDH, ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Nguyễn Đức N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

* Tịch thu tiêu hủy, gồm:

Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu NS3 1928856 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 462/KL-KTHS vào ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và H giấy niêm phong ký hiệu ĐVSGĐ bên ngoài có chữ ký của những người tham gia liên quan và hình dấu của của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 493/KL-KTHS vào ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.

* Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước, gồm:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 356571085861748, màn hình cảm ứng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
  • + Khoản tiền tiền Ngân hàng N3 400.000 (Hiện đang được giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 39490104787500000 mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q).

* Trả lại cho bị cáo, gồm: Khoản tiền tiền Ngân hàng N3 920.000 (Hiện đang

được giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 39490104787500000 mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Q).

Tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức N hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản vụ việc; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 29/3/2024, Nguyễn Đức N đã có hành vi 02 lần bán trái phép ma túy Heroin cho Nguyễn N2 và Đỗ Xuân C; tổng khối lượng ma túy H1 mà N đã bán cho Nguyễn N2, Đỗ Xuân C và cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác là 3,9101gam.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 108/CT-VKSDH, ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Nguyễn Đức N theo đúng tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

[3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện thuộc loại tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm móng phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng không bằng sức lao động của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác để thu lời bất chính.

[4] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy cất giấu tại nhà cho Cơ quan điều tra nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, đã nhiều lần bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng đạo đức mà tiếp tục phạm tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[5] Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án: Đối với người phụ nữ tên B bán ma túy cho Nguyễn Đức N, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn N2 và Đỗ Xuân C đã có hành vi mua trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức N nhằm mục đích sử dụng nhưng do ma túy không đủ khối lượng cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[6] Xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma tuý và bao gói hoàn lại sau giám định của bị cáo bị thu giữ và bao gói kèm theo là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy. Số tiền 1.320.000 đồng, tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng còn lại 920.000 trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. 01 chiếc điện thoại di động hiệu “Iphone 7 Plus” đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Quyết định tạm giam của bị cáo Nguyễn Đức N còn dưới 45 ngày nên HĐXX ra Quyết định tạm giam mới.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 29/3/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
    • * Tịch thu tiêu hủy, gồm:
    • Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu NS3 1928856 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 462/KL-KTHS vào ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và H giấy niêm phong ký hiệu ĐVSGĐ bên ngoài có chữ ký của những người tham gia liên quan và hình dấu của của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 493/KL-KTHS vào ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.

    • * Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước, gồm:
      • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 356571085861748, màn hình cảm ứng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
      • + Khoản tiền tiền Ngân hàng N3 400.000 (Hiện đang được giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 39490104787500000 mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Q).
    • * Trả lại cho bị cáo, gồm: Khoản tiền tiền Ngân hàng N3 920.000 (Hiện đang được giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 39490104787500000 mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Q).
    • Tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

      (Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 14/8/2024).

  1. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Đông Hà;
  • - Công an tp Đông Hà, tỉnh Q.Trị;
  • - Chi cục THADS tp Đông Hà, tỉnh Q.Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu HS vụ án, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Khánh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger