Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Di; nghề nghiệp: Giáo viên về nghỉ hưu.
  2. Ông Nguyễn Công Danh; nghề nghiệp: Giáo viên về nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên L – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 20-5-2005 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1980; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: (02 nhân thân)

- Bản án số 166/2021/HS-ST ngày 22-11-2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 07-11-2022 (thực hiện hành vi phạm tội ngày 06-3-2021, khi chưa đủ 16 tuổi).

- Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 23-9-2023 của UBND xã P, huyện L áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 năm, kể từ ngày 23-9-2023.

Bị bắt tạm giam ngày 28-3-2024, (có mặt).

  1. Nguyễn Ngọc Bảo L2, sinh ngày 28-7-2007 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 5 tháng 21 ngày) tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Ô, tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1978; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (có mặt).

  1. Trần Tiến Đ, sinh ngày 26-9-2007 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 3 tháng 23 ngày) tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Ô2, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh L3, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Bích T3, sinh năm: 1966; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1978; địa chỉ: Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo L2 (ông T1 vắng mặt, bà T2 có mặt).
  2. Ông Trần Thanh L3, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Bích T3, sinh năm: 1966; địa chỉ: Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Tiến Đ (ông L3 vắng mặt, bà T3 có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1978 (có mặt).

Địa chỉ: Ô khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1980 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Phúc T4, sinh năm: 2004 (có mặt).

Địa chỉ: Số C đường T, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Anh Nguyễn Hoàng H1, sinh năm: 2004 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Anh Bùi Đình B, sinh ngày 05-01-2009 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Ông Phạm Minh T5, sinh năm: 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 17-01-2024, Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 72C2-297.63 chở Trần Tiến Đ và Bùi Đình B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Daelim Krea, loại Cub50A biển số 72A1-058.92 chở Nguyễn Ngọc B1 Lâm đến đổ xăng tại cây xăng “24H” thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L. Trong lúc đổ xăng, B1 thấy anh Nguyễn Phúc T4 và anh Nguyễn Hoàng H1 điều khiển xe mô tô chạy qua liền nói với Q “thằng T4 trong nhóm đánh tụi anh kìa”. Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm của anh T4 nên Q rủ Đ, L2 và B1 đuổi theo để giải quyết mâu thuẫn, khi đến quán cơm “A T6” tại tổ A, ấp P, xã P, huyện L thì thấy anh T4 và anh H1 đang ngồi trong quán cơm. Để có hung khí đánh nhau cả nhóm đi đến khu vực ngã ba L thuộc ấp P, xã P, huyện L thì nhặt lấy 01 đoạn cây tre dài khoảng 1,5m và 01 ống kim loại bằng nhôm dài khoảng 125cm (cán cây lau nhà). Sau đó, Đ chở Q cầm cây kim loại, còn B1 chở L2 cầm đoạn cây tre quay lại quán cơm “A T6”. Khi đến quán, Q và L2 cầm hung khí cùng Đ xông đến chỗ anh T4 và anh H1, còn B1 đậu xe đứng bên ngoài. Tại đây, Q cầm cây kim loại đánh 01 cái vào đầu anh T4, rồi tiếp tục đánh anh H1 nhưng anh H1 tránh được bỏ chạy ra ngoài đường. Thấy vậy, Q cầm hung khí đuổi theo anh H1 khoảng 50m, nhưng không kịp nên quay lại quán. Khi thấy Q đánh anh T4, L2 cũng cầm cây tre đánh vào lưng, còn Đ cầm chiếc chìa khóa xe trên tay đánh vào lưng anh T4. Bị đánh, anh T4 bỏ chạy L2 và Đ đuổi theo được một đoạn nhưng không kịp nên quay lại quán cơm vứt bỏ hung khí tại quán rồi ra về.

Đến ngày 18-01-2024, anh H1 đến Công an xã P, huyện L trình báo sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

- Cơ quan điều tra thu giữ 01 cây kim loại màu trắng bạc, hình trụ tròn, rỗng dài 125cm. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.

- 01 đoạn cây tre hình trụ tròn dài khoảng 1,5m, ngày 18-01-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision BKS 72C2-297.62 màu đỏ đen do ông Đỗ Quốc Đ1 (sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số B đường M, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đứng tên giấy đăng ký xe. Năm 2021, ông Đ1 bán xe cho ông Nguyễn Văn T (cha ruột của Q), nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Năm 2022, ông T chết, bà Nguyễn Thị L1 (vợ của ông T) sử dụng từ đó cho đến nay. Ngày 17-01-2024, Nguyễn Văn Q tự ý lấy chiếc xe mô tô sử dụng làm phương tiện phạm tội, bà L1 không biết nên đã trả lại

- Xe mô tô nhãn hiệu Daelim Krea, loại Cub 50A, BKS 72LA - 058.92 do bà Nguyễn Thanh T2 (mẹ ruột của L2) đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 17-01-2024, Nguyễn Ngọc B1 L2 tự ý lấy xe sử dụng làm phương tiện phạm tội, bà T2 không biết.

Ngày 05-4-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 chiếc xe mô tô trên cho bà L1 và bà T2.

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Phúc T4 đã được gia đình Nguyễn Văn Q bồi thường 4.000.000đ, gia đình Nguyễn Ngọc Bảo L2 bồi thường 6.250.000đ và gia đình Bùi Đình B bồi thường 2.600.000đ. Tổng số tiền bồi thường điều trị thương tích 19.100.000đ. Anh T4 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với Bùi Đình B tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển hồ sơ cho UBND thị trấn L, huyện L đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Đối với Nguyễn Văn Q, Nguyễn Ngọc Bảo L2, Trần Tiến Đvà Bùi Đình Bcó hành vi rủ nhau dùng hung khí nguy hiểm đánh anh Nguyễn Phúc T4 gây thương tích. Tuy nhiên, anh T4 có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự nên không có cơ sở xử lý về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã chuyển xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi này.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo L2 là ông Nguyễn Văn T1 và bị cáo Đ là ông Trần Thanh L3; người làm chứng anh Nguyễn Hoàng H1, anh Bùi

Đình B và ông Phạm Minh T5 đã được Tòa án triệu tập mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại Cáo trạng số 115/CT-VKSLĐ ngày 28-6-204 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, xác định bị cáo Q không có án tích, do tại thời điểm phạm tội bị kết án theo Bản án số 166/2021/HS-ST ngày 22-11-2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị cáo chưa đủ 16 tuổi và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 và các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58, 91, 101 và 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo L2 từ 20 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 40 tháng đến 48 tháng.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58, 91, 101 và 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ từ 18 tháng đến 20 tháng, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng.

Đại diện viện kiểm sát không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L2 và Đ. Việc bồi thường là để khắc phục hậu quả do hành vi của các bị cáo gây thương tích cho anh T4. Vì vậy, không đồng ý áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L2 và Đ để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cây kim loại màu trắng bạc, hình trụ tròn, rỗng dài 125cm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo L2 và bị cáo Trần Tiến Đ: Luật sư Nguyễn Văn H nhất trí về tội danh, điều luật Viện kiểm sát áp dụng để truy tố và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự

nguyện, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo phạm tội trong độ tuổi thành niên nên chưa nhận thức được hậu quả, bị lôi kéo, có nhân thân tốt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, các điều 31, 54, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L2 và bị cáo Đ thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề xuất.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo Q không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Bị cáo L2 và bị cáo Đ đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bào chữa, tranh luận bổ sung, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa không tranh luận gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì và không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo ông Nguyễn Văn T1 và ông Trần Thanh L3; người làm chứng anh Nguyễn Hoàng H1, anh Bùi Đình B và ông Phạm Minh T5 đã được Tòa án triệu tập mà vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật tiếp tục xét xử.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định nội dung vụ án như sau: Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm của anh Nguyễn Phúc T4 nên vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17-01-2024, Nguyễn Văn Qrủ Nguyễn Ngọc Bảo L2, Trần Tiến Đvà Bùi Đình

B (dưới 16 tuổi) đến quán cơm “A T6” thuộc tổ A, ấp P, xã P, huyện L để giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, Q dùng hung khí là 01 đoạn cây tre dài khoảng 1,5m; L2 dùng 01 cây kim loại bằng nhôm dài khoảng 125cm và Đ dùng chiếc chìa khóa xe đánh nhiều cái vào đầu, lưng anh T4 gây thương tích. Sau khi, bị đánh anh T4 bỏ chạy thì cả nhóm tiếp tục cầm hung khí rượt đuổi anh T4 và anh Nguyễn Hoàng H1 gây mất trật tự tại nơi công cộng, khu vực đông dân cư, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Q, L2 và Đ là người đủ từ 16 tuổi trở lên nên hành vi của các bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm minh, nhưng do bản tính hung hăng, coi thường pháp luật mà vẫn thực hiện là cố ý thực hiện tội phạm. Ngoài ra, các bị cáo còn gây thương tích cho anh T4, nhưng anh T4 từ chối giám định và không yêu cầu xử lý nên không xem xét. Quá trình giải quyết cũng cần xem xét đánh giá để xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo và khi lượng hình có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

[5] Về vai trò đồng phạm: Để giải quyết mâu thuẫn cá nhân trước đó giữa bị cáo Q với nhóm của anh T4 mà các bị cáo cùng với anh B rũ nhau đi giải quyết gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, các bị cáo có hành vi gây rối trật tự công cộng, nhưng không có sự tổ chức, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể của từng người nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Do đó, khi lượng hình có xem xét đến vai trò, tính chất, mức độ phạm tội, hậu quả gây ra cũng như đặc điểm nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét, quyết định hình phạt.

[5.1] Nguyễn Văn Q là người chủ mưu rủ rê và chuẩn bị hung khí có vai trò cao nhất nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mình.

[5.2] Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ bị rủ rê tham gia với vai trò đồng phạm nên tính chất, mức độ nguy hiểm thấp hơn so với Q.

[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6.1] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm có khả năng gây hại cho nhiều người, nhưng là dấu hiệu định không nên không được xem là tình tiết tăng nặng . Bị cáo Q là người đã thành niên rủ rê xúi dục bị cáo L2 và Đ là

người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6.3] Đối với quan điểm của người báo chữa cho bị cáo L2 và Đ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 là không có căn cứ, như Kiểm sát viên đã trình bày đối đáp nên không có căn cứ áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối bị cáo L2 và Đ để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[6.4] Ngoài ra, bị cáo L2 và Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, L2 đang theo học tại Trường THPT Trần Quang Khải thị trấn L, huyện L, Đ có công việc ổn định nên trong quá trình lượng hình cũng xem xét, đánh giá để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

[7] Bị cáo L2 và Đ thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự để lượng hình trong quá trình giải quyết và có vai trò thứ yếu nên không nhất thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho được hưởng án treo cũng đủ tác dụng, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát và quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 cây kim loại màu trắng bạc, hình trụ tròn, rỗng dài 125cm là hung khí các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo các Nguyễn Văn Q, Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”,
  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28-3-2024

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58, 91, 101 và 65 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo L2 01 (một) năm 06 tháng, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án.

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58, 91, 101 và 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ cho UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.

  1. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây kim loại màu trắng bạc, hình trụ tròn, rỗng dài 125cm.

(Vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản theo Biên bản giao nhận vật chứng số 60/BB.CCTHADS ngày 23-02-2023).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Ngọc Bảo L2 và Trần Tiến Đ mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Đức

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - CCTHA dân sự huyện Long Điền;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm của anh Nguyễn Phúc T nên vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17-01-2024, Nguyễn Văn Q rủ Nguyễn Ngọc Bảo L, Trần Tiến Đ và Bùi Đình B (dưới 16 tuổi) đến quán cơm “A Tuấn” thuộc tổ 1, ấp P, xã P, huyện L để giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, Q dùng hung khí là 01 đoạn cây tre dài khoảng 1,5m; L dùng 01 cây kim loại bằng nhôm dài khoảng 125cm và Đ dùng chiếc chìa khóa xe đánh nhiều cái vào đầu, lưng anh T gây thương tích. Sau khi, bị đánh anh Thịnh bỏ chạy thì cả nhóm tiếp tục cầm hung khí rượt đuổi anh T và anh Nguyễn Hoàng H gây mất trật tự tại nơi công cộng, khu vực đông dân cư, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger