TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25 – 12 – 2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
- 2/ Ông Huỳnh Minh Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 281/2023/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N; Sinh năm 1987; Địa chỉ: Số 102 ấp K, xã L, huyện T, tỉnh S (Bà N vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T; Sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 231 ấp A, xã T, huyện T, tỉnh S (Ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N trình bày:
Bà với ông Nguyễn Thanh T tổ chức lễ cưới vào năm 2011 nhưng đến năm 2015, ông bà mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 129 ngày 20 tháng 11 năm 2015. Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2020 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sông hôn nhân không còn hạnh phúc. Hai người đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay.
Trong quá trình chung sống, bà N với ông T không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay bà Huỳnh Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 281/TB-TLVA ngày 19 tháng 10 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Thanh T nhưng ông Nguyễn Thanh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông Nguyễn Thanh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Thanh T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiên hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị N ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Huỳnh Thị N và ông Nguyễn Thanh T đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, còn ông T mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà N và ông T.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị N với ông Nguyễn Thanh T là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Ông bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2020 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã và làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hai người đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà Huỳnh Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà N trình bày bà và ông T không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà N yêu cầu nên bà phải chịu theo luật định.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N.
- - Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị N được quyền ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
- - Về con chung: Bà Huỳnh Thị N trình bày bà và ông Nguyễn Thanh T không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị N trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011374 ngày 19/10/2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà Huỳnh Thị N đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc T |
Bản án số 112/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 112/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
