Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 4 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Hòa.
  • 2. Ông Phạm Quốc Hùng.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa:

ông Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 558/2023/TLST-HNGĐ ngày 23/11/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Bạch Y, sinh năm 1988 (có mặt).

    Địa chỉ: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: ông Đoàn Quốc T, sinh năm 1988 (vắng mặt).

    Địa chỉ: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 30/10/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch Y trình bày: sau thời gian tìm hiểu, bà Nguyễn Thị Bạch Y (sau đây gọi là bà Y) với ông Đoàn Quốc T (sau đây gọi là ông T) tiến đến hôn nhân vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn nên được Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/8/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung tên Đoàn Quốc T1, sinh ngày 25/10/2015 và Đoàn Nguyễn Cát T2, sinh ngày 16/4/2021. Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, ông T không quan tâm đến gia đình, từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, sống ly thân từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà Y yêu cầu được ly hôn với ông T; về con chung, các cháu T1 và T2 đang sống ổn định với bà Y nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Đoàn Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 71; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên:

  • + Về hôn nhân: bà Y được ly hôn với ông T.
  • + Về con chung: giao các cháu Đoàn Quốc T1, sinh ngày 25/10/2015 và Đoàn Nguyễn Cát T2, sinh ngày 16/4/2021 cho bà Y chăm sóc, nuôi dưỡng; ông T không cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
  • + Về án phí: bà Y phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông T có địa chỉ tại thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông T đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông T đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Y và ông T tiến đến hôn nhân từ năm 2014, có đăng ký kết hôn nên được UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 117, ngày 07/8/2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Y và ông T phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà Y thấy rằng, bà và ông T sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Mặc dù được gia đình hai bên động viên, hòa giải nhưng ông T vẫn không khắc phục, từ đó quan hệ hôn nhân không còn hạnh phúc.

[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ cho ông T thông báo hòa giải, nhằm tạo điều kiện cho ông T và bà Y hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T đều vắng mặt, không có lý do.

[3.3] Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 23/11/2023, được đại diện Văn phòng khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang cung cấp như sau: bà Y và ông T tiến đến hôn nhân vào năm 2014, có 02 con chung Đoàn Quốc T1, sinh năm 2015 và Đoàn Nguyễn Cát T2, sinh năm 2021. Khoảng tháng 05 năm 2023 bà Y, ông T không có mặt tại địa phương; mâu thuẫn gia đình thì địa phương không rõ.

[4] Từ những nhận định tại mục [3], xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023. Mặc dù bà Y đã cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng vợ chồng vẫn sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà Y vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, vì giữa 02 người không còn tình cảm vợ chồng.

Xét, tình trạng hôn nhân giữa bà Y và ông T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Y.

[5] Về quan hệ con chung: bà Y và ông T có 02 con chung tên Đoàn Quốc T1, sinh ngày 25/10/2015 và Đoàn Nguyễn Cát T2, sinh ngày 16/4/2021. Bà Y yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu T1 và cháu T2 đang sống ổn định với bà Y. Đồng thời, tại biên bản ghi nguyện vọng của cháu T1 ngày 23/02/2024 thì cháu muốn được sống chung với bà Y. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thể chất, tinh thần của các cháu, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Y; giao cháu T1 và cháu T2 cho bà Y chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Y không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Y yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch Y.

    1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Bạch Y được ly hôn với ông Đoàn Quốc T.

    2. Về con chung: bà Y và ông T có 02 con chung là Đoàn Quốc T1, sinh ngày 25/10/2015 và Đoàn Nguyễn Cát T2, sinh ngày 16/4/2021.

      Giao cháu Đoàn Quốc T1 và Đoàn Nguyễn Cát T2 cho bà Nguyễn Thị Bạch Y trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu T1 và cháu T2 đang sống chung với bà Y). Ông T không cấp dưỡng nuôi con.

      Bà Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

    3. Về tài sản chung: không có.

    4. Về nợ chung: ghi nhận bà Y xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Nguyễn Thị Bạch Y và ông Đoàn Quốc T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Bạch Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0013402 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà Y đã nộp đủ).

  3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (để biết);
  • - Lưu Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hân Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Y yêu cầu được ly hôn với ông T; về con chung, các cháu T1 và T2 đang sống ổn định với bà Y nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không có.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger