|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2024/DS-PT Ngày: 24- 6- 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Đặng Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 68/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 125/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QĐ-PT ngày 04/6/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết P, sinh năm 1995
- Nơi cư trú: Số nhà A, đường số C, tổ I, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- - Bị đơn: Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1991
- Nơi cư trú: Số A, đường Đ, tổ F, khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số A, đường Đ, tổ F, khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Bà Cao Thị Kiều D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số nhà A, đường số C, tổ I, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị Kiều D: Ông Nguyễn Viết P, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số nhà A, đường số C, tổ I, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Ông Nguyễn Lê H, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số nhà G, đường N, Tổ H, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Quốc T
Tại phiên tòa có mặt ông Nguyễn Viết P, ông Phạm Quốc T, bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Nguyễn Lê H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
-
* Nguyên đơn ông Nguyễn Viết P trình bày:
Ngày 11/11/2023 ông Phạm Quốc T gọi điện thoại và hẹn gặp ông Nguyễn Viết P để vay tiền đáo hạn Ngân hàng. Các bên hẹn và gặp nhau tại quán cà phê, sau khi thoả thuận, thống nhất ông P đồng ý cho ông T vay số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), thời hạn trả ngày 13/11/2023; sau khi thoả thuận thống nhất ông T viết giấy vay ông P số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), giao cho ông P giữ, đồng thời ông P chuyển đủ số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) vào tài khoản 19033085969011, ngân hàng T2 cho ông T. Tuy nhiên, khi đến thời hạn trả tiền ông T vẫn không hoàn trả cho ông P số tiền vay 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), mặc dù ông P đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu; ngày 23/11/2023 ông T có nhờ ông H trả cho ông P được số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), nhưng sau đó ông H yêu cầu chuyển trả lại 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nên số tiền ông T đã chuyển trả cho ông P là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Từ đó, ông T không còn trả cho ông P được bất kỳ số tiền nào khác.
Nên, ông P khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông T và vợ là bà Nguyễn Thị Thanh T1 liên đới phải trả cho ông P, bà Cao Thị Kiều D số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng, thời gian từ ngày 11/11/2023 cho đến khi Toà án giải quyết xong vụ án.
Tại phiên toà, ông P rút yêu cầu Toà án buộc ông T, bà T1 liên đới phải trả tiền lãi đối với số tiền nợ 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng), theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 11/11/2023 cho đến khi Toà án giải quyết xong vụ án; giữ nguyên yêu cầu Toà án buộc ông T, bà T1 liên đới phải trả cho ông P, bà D số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng). Ngoài ra ông P không có yêu cầu gì khác.
-
* Bị đơn ông Phạm Quốc T trình bày:
Ngày 11/11/2023 ông T có đứng ra vay của ông P số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), khi vay ông T hoàn toàn tự nguyện, thời điểm vay các bên không thoả thuận thời hạn trả cụ thể, cũng không thoả thuận tiền lãi. Thời điểm vay tiền chỉ có cá nhân ông T và ông P thoả thuận, giao dịch với nhau.
“Giấy viết tay” mà ông P cung cấp cho Toà án chữ ký, chữ viết bằng mực là của ông T, còn các nội dung khác của “Giấy vay tiền” là do ông P đánh máy, soạn sẵn. Sau khi thoả thuận vay tiền ông P đã chuyển đủ cho ông T số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Việc vay tiền của ông T từ ông P xuất phát từ việc ông Nguyễn Lê H là bạn của ông T có khách đáo hạn ngân hàng, cần tiền nên nhờ ông T đứng ra vay tiền dùm; bản thân ông T không quen biết ông P, mà do ông H giới thiệu. Trước đó, ông T có cho ông H vay một khoản tiền, nhưng ông H chưa trả, do ông H hứa hẹn sau khi vay khoản tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), trong một khoảng thời gian sẽ hoàn trả cho ông T toàn bộ số tiền nợ trước đó và khoản nợ này, nên ông T mới tin tưởng đứng ra vay dùm. Khi tham gia thoả thuận vay tiền vào ngày 11/11/2023 chỉ có ông T và ông P, không có mặt ông H, bà D, bà T1. Sau khi nhận tiền từ ông P, ông T đã chuyển cho ông H số tiền đã vay từ ông P, ông H có viết giấy nhận của ông T số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), nhưng thực tế ông T chỉ chuyển cho ông H số tiền 1.350.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), do ông H trả trước số tiền nợ cho ông T là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên, sau đó ông H không hoàn trả cho ông T số tiền đã nhận, nghi ngờ ông H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên ông T có đơn tố giác tới các cơ quan có thẩm quyền. Do ông H không trả, nên sau khi vay tiền từ ông P cho đến nay ông T vẫn chưa trả được cho ông P số tiền nào, cũng không nhờ ông H hay bất kỳ ai trả cho ông P số tiền nào. Do số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), ngày 11/11/2023 ông T vay ông P là vay dùm cho ông H, bà T1 không tham gia vay, không biết, ông T cũng đã chuyển cho ông H, ông T, bà T1 không trực tiếp sử dụng số tiền này. Hiện nay, ông P chỉ yêu cầu phải trả số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng) ông T đồng ý một mình trả cho ông P, bà D.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 trình bày:
Bà T1 và ông Phạm Quốc T là vợ chồng. Việc ông T vay tiền ông P ngày 11/11/2023 bà không biết, bà không tham gia giao dịch, cũng không sử dụng số tiền vay. Bản thân ông T vay tiền ông P là vay dùm cho ông H. Nên bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê H trình bày:
Bản thân ông H trước đây có nhiều lần làm ăn với bà Dương Thị L là mẹ của ông Nguyễn Viết P. Vào thời điểm tháng 11/2023 có một số khách hàng cần tiền đáo hạn Ngân hàng, nên ông có đặt vấn đề vay tiền từ bà L để cho khách đáo hạn. Tuy nhiên thời điểm này có một số khách hàng vỡ nợ, mất khả năng trả tiền sau khi đáo hạn, nên bà L có yêu cầu phải có bên thứ ba đứng ra vay, chứ không đồng ý cho ông H vay tiền. Sau đó, ông H có nhờ ông ông Phạm Quốc T đứng ra vay tiền dùm. Bản thân ông T là người vay tiền từ ông P, sau đó ông T đã chuyển cho ông H vay số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), nhưng do trước đó ông có vay của ông T một khoản tiền, nên ông có trả cho ông T 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), nên số tiền ông T chuyển cho ông là 1.350.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng). Sau đó ông có chuyển trả cho ông P 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) tiền lãi thay cho ông T, việc ông chuyển tiền lãi cho ông P, ông không nói cho ông T và ông T cũng không biết. Tuy nhiên, sau đó, ông có yêu cầu ông P chuyển lại 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Nên số tiền mà ông đã chuyển cho ông P là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Kiều D, người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Khoản tiền mà ông P cho ông T vay là tài sản chung của ông P, bà D nên yêu cầu Toà án buộc ông T, bà T1 liên đới phải trả cho ông P, bà D số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng). Ngoài ra bà D không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Viết P về việc yêu cầu Toà án buộc ông Phạm Quốc T, bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả tiền lãi, theo mức lãi 1,66%/tháng, đối với số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng).
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Viết P:
Buộc ông Phạm Quốc T phải trả cho ông Nguyễn Viết P, bà Cao Thị Kiều D số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21 tháng 3 năm 2024, bị đơn ông Phạm Quốc T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 theo hướng tuyên buộc ông Nguyễn Lê H phải liên đới cùng với ông Phạm Quốc T trả cho ông Nguyễn Viết P số tiền 1.270.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
- - Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn ông Phạm Quốc T kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quốc T buộc ông Nguyễn Lê H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới cùng ông trả cho ông Nguyễn Viết P số tiền 1.270.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguyên đơn ông Nguyễn Viết P khởi kiện yêu cầu ông Phạm Quốc T phải trả số tiền vay 1.270.000.000 đồng. Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp là Giấy vay tiền trong có thể hiện nội dung ông Nguyễn Viết P cho ông Phạm Quốc T vay số tiền 1.400.000.000 đồng và số tiền vay được chuyển vào tài khoản số 19033085969011 đứng tên Phạm Quốc T tại Ngân hàng T2.
Vào ngày 11/11/2023 ông Nguyễn Viết P đã chuyển toàn bộ số tiền 1.400.000.000 đồng vào tài khoản cho ông Phạm Quốc T, cụ thể vào lúc 10 giờ 34 phút 45 giây chuyển 400.000.000 đồng; 10 giờ 35 phút 45 giây chuyển 400.000.000 đồng; 10 giờ 36 phút 36 giây chuyển 400.000.000 đồng và 10 giờ 37 phút 26 giây chuyển 200.000.000 đồng (căn cứ vào Sổ phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn do ông Nguyễn Viết P cung cấp và 04 tờ sao kê do ông Phạm Quốc T cung cấp có trong hồ sơ vụ án).
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm ông Phạm Quốc T thừa nhận ông có vay tiền và đã nhận số tiền 1.400.000.000 đồng của ông Nguyễn Viết P vào ngày 11/11/2023 là đúng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ do ông P và ông T cung cấp nên có cơ sở xác định ông Phạm Quốc T là người vay tiền và nhận số tiền 1.400.000.000 đồng của ông Nguyễn Viết P.
Trong quá trình vay, ông P khai ông T có trả cho ông P 130.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ chưa trả 1.270.000.000 đồng. Ông T cũng đồng ý trả cho ông P số tiền này, tuy nhiên ông cho rằng, ông vay số tiền 1.400.000.000 đồng của ông P là vay dùm cho ông H, để ông H đáo hạn ngân hàng nhưng ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho ý kiến của ông là có căn cứ. Trong khi ông P không thừa nhận và ông H cho rằng ông T là người vay tiền của ông P. Tại phiên tòa ông Nguyễn Lê H đồng ý liên đới cùng ông T trả cho ông P số tiền 1.270.000.000 đồng nhưng ông P không chấp nhận. Do đó, không có cơ sở để buộc ông H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới cùng với ông T trả cho ông Nguyễn Viết P số tiền 1.270.000.000 đồng.
Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Viết P, buộc ông Phạm Quốc T phải trả cho ông Nguyễn Viết P và bà Cao Thị Kiều D số tiền 1.270.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo của ông Phạm Quốc T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nên không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quốc T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 228; Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Viết P về việc yêu cầu Toà án buộc ông Phạm Quốc T, bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả tiền lãi, theo mức lãi 1,66%/tháng, đối với số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng).
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Viết P:
Buộc ông Phạm Quốc T phải trả cho ông Nguyễn Viết P, bà Cao Thị Kiều D số tiền 1.270.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Viết P, bà Cao Thị Kiều D, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Lê H không phải chịu án phí.
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Viết P số tiền 25.366.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004042, ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Ông Phạm Quốc T phải chịu 50.100.000 đồng (Năm mươi triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông Phạm Quốc T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004386 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/6/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Phong Lan |
Bản án số 112/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 112/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Viết P - ông Phạm Quốc T "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
