|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày 22-7-2024 |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lèo Văn Hưởng, bà Hà Thị Thanh Liêm
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 24/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST- HS ngày 08/7/2024 đối với các bị cáo:
-
Tòng Quốc K
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/07/2003 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã C, thành phố S; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tòng Văn C, sinh năm 1981 và con bà Tòng Thị L, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Tòng Ngọc Đ
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/10/1999 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã C, thành phố S; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tòng Văn H, sinh năm 1958 và con bà Cầm Thị H1, sinh năm 1959; Bị cáo có vợ là Lò Thị Ngọc L1, sinh năm 2004; có 01 con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 55 phút ngày 03/4/2024, khi đang đi bộ tại tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, Tòng Q đã bị tổ Công tác công an xã C, thành phố S làm nhiệm vụ bắt quả tang hành vi tàng trữ 01 01 gói giấy bạc mở ra bên trong có 03 viên nén hình tròn màu hồng (K tự giác lấy ở trong túi áo khoác bên trái đang mặc ra giao nộp và khai nhận là ma túy hồng phiến cất giữ để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tòng Quốc K, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Lời khai ban đầu tại cơ quan điều tra, K khai nhận số ma túy thu giữ khi bắt quả tang là do K được Tòng Ngọc Đ (là người cùng bản) nhờ đi mua hộ sau đó hứa sẽ trả tiền công cho là 50.000đ. Căn cứ vào lời khai của K, ngày 04/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S triệu tập để làm việc với Tòng Ngọc Đ, sinh năm 1999, trú tại bản T, xã C, thành phố S. Tại cơ quan điều tra Đ thừa nhận hành vi nhờ K đi mua ma túy hồng phiến hộ với số tiền là 300.000đ và hứa sẽ trả công đi mua ma túy cho K số tiền 50.000đ vào ngày 03/4/2024.
Ngày 04/04/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Tòng Quốc K, kết quả: “03 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ khi bắt quả tang K có tổng khối lượng 0,30 gam; Trích 02 viên khối lượng 0,20 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T Còn 01 viên khối lượng 0,10 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu K.”
Ngày 04/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 451/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh S giám định chất ma túy đối với mẫu gửi giám định. Ngày 25/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 568/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định pháp y tâm thần đối với Tòng Ngọc Đ, sinh năm 1999, trú tại bản T, xã C, thành phố S.
Tại kết luận giám định số 844/KL-KTHS ngày 05/04/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,30 gam; loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.”
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 70//KLGĐ ngày 16/5/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: “Tại thời điểm thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 03/4/2024 Tòng Ngọc Đ không bị bệnh tâm thần, Tòng Ngọc Đ đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi; Hiện tại (tại thời điểm giám định) Tòng Ngọc Đ không bị bệnh tâm thần, Tòng Ngọc Đ đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. ”
Tại bản Cáo trạng số 254/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố Tòng Quốc K về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 và Tòng Ngọc Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Tòng Quốc Khánh phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 và Tòng Ngọc Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Tòng Quốc Khánh từ 26 (hai mươi sáu) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/4/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Tòng Ngọc Đ từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,10 gam Methamphetamine còn lại thu giữ trong vụ án sau khi đã lấy mẫu gửi giám định.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa các bị cáo Tòng Quốc K và Tòng Ngọc Đ đã khai nhận:
Ngày 03/04/2024, tại khu vực tổ E, phường C, thành phố S Tòng Q đã có hành vi mua hộ 0,30 gam Methamphetamine cho Tòng Ngọc Đ nhằm mục đích kiếm lời 50.000đ thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Tòng Ngọc Đ đã thực hiện hành vi nhờ Tòng Quốc K mua hộ 0,30 gam Methamphetamine cất giữ trái phép nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của các bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 03/4/2024 tại khu vực tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với các bị cáo cùng vật chứng thu giữ;
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 844/KL-KTHS ngày 05/04/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh S và Kết luận giám định pháp y tâm thần số 70//KLGĐ ngày 16/5/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Tòng Quốc K có hành vi mua hộ 0,30 gam Methamphetamine cho Tòng Ngọc Đ nhằm mục đích kiếm lời 50.000đ nên hành vi của Tòng Quốc K đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Tòng Ngọc Đ có hành vi nhờ Tòng Quốc K mua hộ 0,30 gam Methamphetamine cất giữ trái phép nhằm mục đích sử dụng đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
[3.1] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay đều có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Riêng bị cáo Tòng Quốc K khi bị bắt quả tang đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, khai báo hành vi phạm tội của bị cáo Tòng Ngọc Đ. Do vậy bị cáo K còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Bị cáo Tòng Ngọc Đ có ông ngoại là ông Cầm Văn T1 được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
[3.4] Về nhân thân: Các Bị cáo đều có nhân thân tốt, trước lần phạm tội chưa bị xét xử về hành vi phạm tội nào khác và chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Từ những đánh giá và nhận định nêu trên, HĐXX thấy rằng: Bị cáo Tòng Quốc K phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma tuý là 0.30 gam Methamphetamine, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân xấu, có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; do vậy cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, xử phạt bị cáo Tòng Quốc K mức án 28 (hai mươi tám) tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo Tòng Ngọc Đ phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma tuý là 0.30 gam Methamphetamine, có nhân thân tốt, có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo ở mức mức án 14 (mười bốn) tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về nguồn gốc 0,30 gam Heroine bị thu giữ, Tòng Q khai là một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng ở khu vực khu vực đầu ngõ cạnh khu đô thị P thuộc tổ E, phường C thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,10 gam Methamphetamine còn lại thu giữ trong vụ án sau khi đã lấy mẫu gửi giám định. Xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017: Tuyên bố bị cáo Tòng Quốc K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Tòng Quốc K 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoàn 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Tòng Ngọc Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Xử phạt bị cáo Tòng Ngọc Đ 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh mảnh giấy bạc mầu trắng, mẫu lưu K = 0,10 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 084333).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tòng Quốc K và bị cáo Tòng Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Tòng Văn K phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Tòng Ngọc Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
