TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/DS-ST Ngày: 21-5-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Như Thủy;
- 2/ Ông Nguyễn Đình Rành;
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 696/2023/TB-TLVA ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân T;
Địa chỉ: Số E Đường C, phường T, Quận G, Tp .
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Minh S; địa chỉ: A, Đường số D, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 226/UQ-QTD ngày 05/10/2023).
Ông S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
Bị đơn: Ông Nguyễn Anh Q, sinh năm 1997;
Địa chỉ: 3 T, Tổ E, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T do ông Bùi Minh S là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 21/9/2019, ông Nguyễn Anh Q có ký Hợp đồng tín dụng kiêm đề nghị vay vốn và phương án sử dụng vốn số: 1-0003429/HĐTD (sau đây gọi là Hợp đồng) với Quỹ tín dụng nhân dân T để vay số tiền là 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ là ngày 21/9/2020, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 10,098%/năm; hình thức trả nợ vay: trả nợ gốc và lãi hàng tháng; mục đích sử dụng vốn: bán quán ăn.
Ngày 21/9/2019, Quỹ tín dụng nhân dân T đã giải ngân số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng cho ông Nguyễn Anh Q (Căn cứ theo Giấy nhận nợ cùng ngày có chữ ký xác nhận của ông Q).
Quá thời hạn trả nợ nhưng ông Nguyễn Anh Q không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đông nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Hợp đồng) nên ngày 21/9/2020, Quỹ tín dụng nhân dân T đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 2 của Hợp đồng).
Tính đến ngày 21/5/2024, ông Q còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân T các khoản sau: Dư nợ gốc là 17.153.000 (Mười bảy triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng, lãi trong hạn là 3.040.200 (Ba triệu không trăm bốn mươi ngàn hai trăm) đồng, lãi quá hạn là 10.120.000 (Mười triệu một trăm hai mươi ngàn) đồng, lãi chậm trả lãi là 102.000 (Một trăm lẻ hai ngàn) đồng, tổng cộng là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Anh Q phải thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân T tổng số tiền tính đến ngày 21/5/2024 là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng, trong đó nợ gốc là 17.153.000 (Mười bảy triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng, lãi trong hạn là 3.040.200 (Ba triệu không trăm bốn mươi ngàn hai trăm) đồng, lãi quá hạn là 10.120.000 (Mười triệu một trăm hai mươi ngàn) đồng, lãi chậm trả lãi là 102.000 (Một trăm lẻ hai ngàn) đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Anh Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đại diện nguyên đơn xác nhận chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân bị đơn ông Nguyễn Anh Q trả nợ, khoản nợ không liên quan đến bất kỳ ai khác.
Ông Bùi Minh S là người đại diện theo ủy quyền của Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Anh Q đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Sau khi nghe kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu quan điểm;
Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề cần giải quyết trong vụ án;
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn là Quỹ tín dụng nhân dân T có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Anh Q thanh toán số tiền gốc và lãi tính đến ngày 21/5/2024 là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng. Trong đó, nợ gốc là 17.153.000 (Mười bảy triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng, lãi trong hạn là 3.040.200 (Ba triệu không trăm bốn mươi ngàn hai trăm) đồng, lãi quá hạn là 10.120.000 (Mười triệu một trăm hai mươi ngàn) đồng, lãi chậm trả lãi là 102.000 (Một trăm lẻ hai ngàn) đồng.
Theo kết quả xác minh của Công an phường T thì ông Nguyễn Anh Q không còn thực tế sinh sống tại địa chỉ 3 T, Tổ E, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Nguyễn Anh Q theo Hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên. Nay ông Q vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Anh Q thanh toán số tiền gốc và lãi tính đến ngày 21/5/2024 là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn (có đại diện hợp pháp ông Bùi Minh S) có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Anh Q đã được tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn xác nhận việc cho bị đơn vay để bán quán ăn nên chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn thanh toán số tiền còn nợ như trên, không yêu cầu trách nhiệm liên đới vợ chồng nên đề nghị Tòa án không triệu tập vợ của bị đơn vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn nhưng vẫn không có ý kiến phản đối. Do đó, Tòa án không triệu tập vợ của bị đơn tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung tranh chấp của các đương sự:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Anh Q phải thanh toán tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 21/5/2024 là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng. Trong đó, nợ gốc là 17.153.000 (Mười bảy triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng, lãi trong hạn là 3.040.200 (Ba triệu không trăm bốn mươi ngàn hai trăm) đồng, lãi quá hạn là 10.120.000 (Mười triệu một trăm hai mươi ngàn) đồng, lãi chậm trả lãi là 102.000 (Một trăm lẻ hai ngàn) đồng. Yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[3.1] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 4 Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh, trình bày ý kiến của mình và phải chịu hậu quả của việc vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đông hoạt động các lĩnh vực tại Giấy phép hoạt động quỹ tín dụng nhân dân số 03/QLTDND/NH-GP ngày 26/9/1996 của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Thành phố H cấp. Căn cứ Hợp đồng tín dụng kiêm đề nghị vay vốn và phương án sử dụng vốn số: 1-0003429/HĐTD ngày 21/9/2019 và Giấy nhận nợ ngày 21/9/2019 có chữ ký xác nhận của ông Q thì Quỹ tín dụng nhân dân T đã giải ngân số tiền 40.000.000 cho ông Q.
Xét, chủ thể ký kết, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên buộc các bên phải thực hiện theo thỏa thuận Hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q đã thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân T nợ gốc 22.847.000 (Hai mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng, lãi trong hạn là 1.009.800 (Một triệu không trăm lẻ chín ngàn tám trăm) đồng.
Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thanh toán số tiền còn nợ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Hợp đồng) nên ngày 21/9/2020, Quỹ tín dụng nhân dân T đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 24.153.000 (Hai mươi tư triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo Điều 2 của Hợp đồng.
Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[3.2] Về lãi suất: Căn cứ Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Quỹ tín dụng nhân dân T có chức năng hoạt động tín dụng theo Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và phần lãi suất do các bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kiêm đề nghị vay vốn và phương án sử dụng vốn số: 1-0003429/HĐTD ngày 21/9/2019 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật và có cơ sở nên chấp nhận.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất do hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kiêm đề nghị vay vốn và phương án sử dụng vốn số: 1-0003429/HĐTD ngày 21/9/2019 kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận hợp đồng nên chấp nhận.
[3.3] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 21/5/2024 là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng, tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu của nguyên đơn không trái quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đông số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Quyền kháng cáo: Quỹ tín dụng nhân dân T, ông Nguyễn Anh Q có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 147; điểm e khoản 1 Điều 192; khoản 1 Điều 207; Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 40; Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ và bị đơn ông Nguyễn Anh Q.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Anh Q có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đông thương mại cổ phần S1 tổng số tiền tính đến ngày 21/5/2024 là 30.415.200 (Ba mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn hai trăm) đồng. Trong đó, nợ gốc là 17.153.000 (Mười bảy triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng, lãi trong hạn là 3.040.200 (Ba triệu không trăm bốn mươi ngàn hai trăm) đồng, lãi quá hạn là 10.120.000 (Mười triệu một trăm hai mươi ngàn) đồng, lãi chậm trả lãi là 102.000 (Một trăm lẻ hai ngàn) đồng. Trả làm một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực thi hành. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Kể từ ngày 22/5/2024, bị đơn ông Nguyễn Anh Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kiêm đề nghị vay vốn và phương án sử dụng vốn số: 1-0003429/HĐTD ngày 21/9/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Anh Q phải chịu án phí là 1.520.760 (Một triệu năm trăm hai mươi ngàn bảy trăm sáu mươi) đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền. Hoàn lại cho Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 727.455 (Bảy trăm hai mươi bảy ngàn bốn trăm năm mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0037779 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Hồng Phúc |
Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 112/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
