|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 21/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Đức Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: - bà Kiều Thị Thanh Nguyên;
- bà Đinh Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Dương Ngọc T, sinh ngày: 09/10/2002, tại: tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn 3, xã PL, huyện PS, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở: Phòng số 15, nhà số 2E, đường số X, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Giẻ Triêng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc P (đã chết) và bà Dương Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/10/2023, tạm giữ từ ngày 02/10/2023, tạm giam từ ngày 11/10/2023 cho đên nay. “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 30 phút, ngày 01/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý phối hợp Công an phường V, quận B đi tuần tra đến trước nhà số 212/23 CL, phường V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Nguyễn Dương Ngọc T đang điều khiển xe mô tô biển số 36C2 – 091.15 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi da màu đen T đang đeo trước ngực có 01 hũ nhựa màu xanh bên trong có 05 viên nén màu hồng và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. T khai nhận là ma tuý do T mua và cất dấu để sử dụng cho bản thân nên đưa T về trụ sở Công an phường V lập biên bản phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển lên Cơ quan CSĐT – Công an quận B để xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, bị can Nguyễn Dương Ngọc T khai nhận số ma túy trên T mua của một người đàn ông tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 30/9/2023 ở khu vực nghĩa trang phường N, quận B. Mục đích mua dễ sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai của T phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- + 05 viên nén màu hồng; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu;
- Tại bản Kết luận giám định số 10992/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: 05 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng là 2,0190 gam, loại MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,5107 gam, loại Ketamine
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 36C2 .091.15. T khai nhận sử dụng xe mô tô để đi mua ma tuý.
- Qua xác minh xe mô tô biển số 36C2 – 091.15 do anh Mai Ngọc Đ đứng tên chủ sở hữu, anh Đ khai khoảng tháng 10 năm 2022 anh Đ đã bán xe mô tô trên cho T với số tiền 14.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên, anh Đ không liên quan đến hành vi Tàng trữ ma túy của T và không có yêu cầu gì về chiếc xe mô tô trên.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số thuê bao 0814414412 T khai sử dụng vào việc liên lạc với đối tượng tên H để mua ma tuý.
- + 01 túi da màu đen; 01 hủ nhựa màu xanh. Thu giữ của T sử dụng để cất giữ ma tuý.
Toàn bộ số vật chứng trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân chờ xử lý
Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo T, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo T với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng là tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ, tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu đen, 01 hủ nhựa màu xanh; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 36C2-091.15, 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0814414412. Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp: không đề nghị xem xét.
Bị cáo T không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 01/10/2023, tại trước nhà số 212/23 CL, phường V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo T có hành vi cất giữ trong túi da màu đen đeo trước ngực 05 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng là 2,0190 gam, loại MDMA và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,5107 gam, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt giữ đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 10992/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: 05 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng là 2,0190 gam, loại MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,5107 gam, loại Ketamine.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 2,0190 (hai phẩy không một chín không) gam, loại MDMA và 1,5107 (một phẩy năm một không bảy) gam, loại Ketamine là thuộc trường hợp “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”; “Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có căn cứ nên chấp nhận.
[3] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bất chấp pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác do đó cần xử lý với mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo hiện đang bị tạm giam, không có nơi cư trú ổn định và không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T, Nguyễn Văn T (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T (điều tra viên) và hình dấu Công an phường V, quận B. Hội đồng xét xử xét vật chứng trên là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) túi da màu đen và 01 (một) hủ nhựa màu xanh. Hội đồng xét xử xét thấy những vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) điện thoại đi động hiệu Iphone số thuê bao 0814.414.xxx, đây là điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc để mua ma túy. Hội đồng xét xử xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 36C2 - 091.15, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Hội đồng xét xử xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Đối với người đàn ông tên H (không rõ lai lịch) bán cho T số ma túy trên, do chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T, Nguyễn Văn T (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T (điều tra viên) và hình dấu Công an phường V, quận B.
- + 01 (một) túi da màu đen.
- + 01 (một) hủ nhựa màu xanh.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại đi động hiệu Iphone số thuê bao 0814.414.xxx.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 36C2 - 091.15.
(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK24/118TAM ngày 13/3/2024).
3. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Dương Ngọc T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Phước |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Dương Ngọc T
