|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2025/HS-ST Ngày 16-06-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn – Giáo viên nghỉ hưu.
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Định và ông Đặng Đức H - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13/6/2025 và 16/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2025/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-HS ngày 16/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/HSST-QĐ ngày 30/5/2025; Thông báo tạm ngừng phiên tòa số 01/TB-TA ngày 13/06/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Công M, sinh ngày 27/10/2007 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 29/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt.
- Họ và tên: Đào Huy T, sinh ngày 27/9/2008 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân Đ, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1987; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Cao Xuân H2, sinh ngày 06/8/2006 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân Đ1, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Trần Thị M1, sinh năm 1972; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 29/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025.
- Họ và tên: Nguyễn Quang M2, sinh ngày 28/01/2007 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị Bích N, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 29/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Đức A, sinh ngày 18/8/2006 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Vũ Hoàng Gia K, sinh ngày 08/5/2007 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn P, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị H3, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Lương Gia T1, sinh ngày 02/4/2006 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: thôn P, xã S (nay là tổ dân phố P, phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân T2, sinh năm 1983 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1987; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B. Có mặt
- Họ và tên: Đỗ Anh Đ3, sinh ngày 29/11/2006 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ dân phố P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Cao B, sinh năm 1985 và bà Đào Thị Lệ H4, sinh năm 1984; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 29/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Lê Trường T4, sinh ngày 10/02/2008 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1978; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 29/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Thân Ngọc V1, sinh ngày 27/01/2008 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thân Văn S, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 01/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Thân Công C3, sinh ngày 11/08/2008 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thân Văn N2, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị D1, sinh năm 1981; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại bị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2025 đến ngày 25/6/2025. Có mặt
- Họ và tên: Hoàng Trung K1, sinh ngày 19/7/2008 tại Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C2, sinh năm 1982 và bà Đỗ Thị V, sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, - Nhân thân: Ngày 24/4/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B khởi tố về hành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang bị tạm giữ tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B trong vụ án khác. Có mặt. (Có mặt)
- Đại diện hợp pháp của các bị cáo
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Công M: Ông Lê Đình H1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; (Có mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Đào Huy T: Ông Đào Xuân Đ, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: thôn P, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quang M2: ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị Bích N, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (bà N có mặt, ông D xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Hoàng Gia K: Ông Vũ Văn P, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị H3, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: số nhà B, ngõ C, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Anh Đ3: Ông Đỗ Cao B, sinh năm 1985 và bà Đào Thị Lệ H4, sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (ông B có mặt, bà H4 xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Trường T4: Ông Lê Văn C1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (ông cảnh có mặt, bà H5 có mặt phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, vắng mặt khi xét xử và tuyên án)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Thân Ngọc V1: Ông Thân Văn S, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (ông S vắng mặt bà X có mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Thân Công C3: Ông Thân Văn N2, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị D1, sinh năm 1981; cùng địa chỉ: tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (ông N2 Vắng mặt, bà D1 có mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Trung K1: Ông Hoàng Văn C2, sinh năm 1982 và bà Đỗ Thị V, sinh năm 1983; cùng địa chỉ: tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Công M, Đào Huy T, Lê Trường T4, Hoàng Trung K1: Bà Giáp Thị H6 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: Số F đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang M2, Đỗ Anh Đ3: Bà Thân Thị Thúy V2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: Số F đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hoàng Gia K: Ông Thân Văn L1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: Số F đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Thân Ngọc V1, Thân Công C3: Bà Nguyễn Hải L2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: Số F đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- Đại diện đoàn thanh niên nơi các bị cáo cư trú, sinh sống, học tập:
- Đại diện Đoàn thanh niên phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Lê Công M cư trú: Bà Vũ Lan A1 – Bí thư Đoàn thanh niên phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Đào Huy T cư trú: Ông Nguyễn Văn H7 - Bí thư Đoàn thanh niên xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Nguyễn Quang M2 cư trú: Ông Nguyễn Duy Đ4 – Phó Bí thư Đoàn thanh niên phường T, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Vũ Hoàng Gia K cư trú: Ông Lê Ngọc A2 – Bí thư Đoàn thanh niên phường T, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Đỗ Anh Đ3 cư trú: Bà Nguyễn Thị N3– Bí thư Đoàn thanh niên phường S, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Lê Trường T4 cư trú: ông Đặng Ngọc H8 – Bí thư Đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Thân Ngọc V1, Thân Công C3 cư trú: Ông Thân Văn N4 – Bí thư Đoàn thanh niên phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện Đoàn thanh niên phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo Hoàng Trung K1 cư trú: Hoàng Minh N5 – Bí thư Đoàn thanh niên phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Hoàng Minh H9, sinh ngày 28/01/2009; địa chỉ: tổ dân phố số C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Hoàng Minh H9: Ông Hoàng Văn K2, sinh năm 1985 và bà Hoàng Thị H10, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: tổ dân phố số C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
-
Nguyễn Trí Đ5, sinh ngày 12/04/2009; địa chỉ: tổ dân phố C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Trí Đ5: Bà Nguyễn Thị N6, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ dân phố C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
-
Trần Gia H11, sinh ngày 28/01/2009; địa chỉ: tổ dân phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Trần Gia H11: Ông Trần Văn H12, sinh năm 1987 và bà Trần Thị T5, sinh năm 1990; cùng địa chỉ: tổ dân phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
-
Trần Việt T6, sinh ngày 06/11/2008; địa chỉ: tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Trần Việt T6: Bà Đỗ Thị H13, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ F, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N6, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- Nguyễn Thị Thanh H14- sinh năm 1994, trú tại tổ F, phường T, thành phố B (vắng mặt)
- Đặng Hoàng L3, sinh năm 2007; địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
-
Thân Ngọc N7, sinh ngày 05/3/2010; địa chỉ: tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Thân Ngọc N7: Ông Thân Văn C4, sinh năm 1979 và bà Lương Thị T7, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Nguyễn Văn H15, sinh năm 2006; trú tại: Tổ G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, tại khu vực cây xăng đường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Lê Công M- sinh ngày 27/10/2007, trú tại tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98B3- 922.42 chở sau Đỗ Anh Đ3- sinh ngày 29/11/2006, trú tại tổ dân phố P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Cao Xuân H2- sinh ngày 06/08/2006, trú tại tổ G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 98B3- 672.89 chở sau Nguyễn Quang M2- sinh ngày 28/01/2007, trú tại tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Đức A- sinh ngày 18/08/2006, trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng (không biển kiểm soát) chở Vũ Hoàng Gia K- sinh ngày 08/05/2007, trú tại số nhà B, ngõ C, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Lương Gia T1- sinh ngày 02/04/2006, trú tại tổ dân phố P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang một mình điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu sơn trắng, biển kiểm soát 98AA- 098.39. Tại đây, Lê Công M rủ cả nhóm đi trên đường tìm người lạ để đánh thì cả nhóm đồng ý; Cao Xuân H2 có gọi điện M3 rủ thêm bạn là Hoàng Minh H9- sinh ngày 28/01/2009, trú tại tổ dân phố số C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đi đánh nhau cùng thì Hoàng Minh H9 đồng ý, rồi cả nhóm đi đến khu vực chợ M5, phường T, thành phố B đón Hoàng Minh H9. Lúc này, Hoàng Minh H9 điều khiển xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 98AA- 098.39 của T1 chở T1 ngồi sau. Cả nhóm đi ra khu vực phía sau Trường THCS T10 thuộc phường T, thành phố B; Hoàng Minh H9 gọi điện rủ Đào Huy T- sinh ngày 27/09/2008, trú tại khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đi đến khu vực Trường THCS T10, thành phố B để đi đánh nhau và T đồng ý đi cùng. Lúc này, T bảo nhóm của T gồm 08 người đi trên 04 xe mô tô đang chở nhau gồm có: Hoàng Trung K1- sinh ngày 19/07/2008, trú tại tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn tím than (không biển kiểm soát) chở sau Đào Huy T; Nguyễn Trí Đ5- sinh ngày 12/04/2009, trú tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu sơn đỏ đen (không biển kiểm soát) chở Trần Gia H11- sinh ngày 28/01/2009, trú tại tổ dân phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Lê Trường T4- sinh ngày 10/02/2008, trú tại thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda AirBlade, màu sơn đen- vàng- đồng, biển kiểm soát 98E1- 693.88 chở Trần Việt T6- sinh ngày 06/11/2008, trú tại tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Thân N- sinh ngày 27/01/2008, trú tại tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen (không biển kiểm soát) chở sau Thân Công C3- sinh ngày 11/08/2008, trú tại tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đi cùng nhóm của Hoàng Minh H9 thì mọi người đều đồng ý. Khi nhóm của T đến gần khu vực Đài truyền hình B thuộc địa phận xã T, thành phố B thì gặp nhóm của Hoàng Minh H9, hai nhóm này nhập vào thành một đoàn gồm 8 xe mô tô, 16 người đi trên đường V đến khu vực bùng binh gần cầu vượt T thuộc xã T, thành phố B thì có một nhóm nam thanh niên khác không quen biết gồm khoảng 8 người, đi trên 4 chiếc xe mô tô nhập vào nhóm đi cùng. Cả nhóm đi đến khu vực bãi đất trống phía sau Trường THCS T10 được quây bằng hàng rào tre thì đỗ xe lại. Cả nhóm cùng thống nhất rút những chiếc gậy tre ở hàng rào làm hung khí mang đi tìm nhóm đánh nhau, trong nhóm có Đỗ Anh Đ3, Lương Gia T1, Vũ Hoàng Gia K, Đào Huy T, Trần Gia H11, Trần Việt T6 mỗi người rút 01 cây gậy tre có đường kính khoảng 03cm; T cầm chiếc gậy dài khoảng 03 mét, những người còn lại cầm gậy dài khoảng hơn 01 mét. Sau khi lấy gậy tre xong, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô mang theo gậy tre đi ra đường V hướng Đài truyền hình B. Khi đi đến ngã tư đèn giao thông cạnh Đài truyền hình B thì cả nhóm điều khiển xe rẽ trái quay đầu xe đi hướng cầu vượt T. Đến cầu vượt T tất cả vòng ngược lại tiếp tục vòng quay xe lại đi trên đường V về hướng Đài truyền hình B mục đích tìm người để đánh nhau. Trên đường đi cả nhóm điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, không sử dụng mũ bảo hiểm, bóp còi, rú ga, hò hét, đồng thời mang theo hung khí là gậy tre. Khi đến gần khu vực Đ tỉnh Bắc Giang, cả nhóm thấy phía đường ngược chiều có 02 nam thanh niên không quen biết đang đi trên chiếc xe mô tô Honda AirBlade, màu đen không rõ biển kiểm soát, người ngồi sau cầm theo 1 chiếc gậy kim loại dài khoảng 2,5m. Hoàng Trung K1 điều khiển xe chở sau Đào Huy T quay đầu xe lại rẽ phải vào đoạn đường đi vào Trường THPT G tách đoàn, những người còn lại trong nhóm đồng loạt tăng ga, cầm theo hung khí đuổi theo 02 nam thanh niên trên để đánh nhau theo hướng cầu từ Đài truyền hình tỉnh B đến cầu vượt T. Quá trình truy đuổi, cả nhóm điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, không sử dụng mũ bảo hiểm, bóp còi, rú ga, hò hét, Đỗ Anh Đ3, Lương Gia T1, Vũ Hoàng Gia K, Trần Gia H11, Trần Việt T6 ngồi sau xe mô tô cầm gậy tre khua khoắng đe dọa. Khi đi đến khu vực cầu vượt T thì cả nhóm không đuổi kịp hai nam thanh niên trên nên tất cả điều khiển xe mô tô quay đầu tại bùng binh đi trên đường V đi theo hướng Đài truyền hình tỉnh B, rồi rẽ phải đi vào đường mới theo hướng đi phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang tiếp tục tìm nhóm đánh nhau. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu vực tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cả nhóm điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, không sử dụng mũ bảo hiểm, bóp còi, rú ga, hò hét và mang theo hung khí thì bị lực lượng Công an phường T đi tuần tra kiểm soát phát hiện, truy bắt. Cả nhóm tăng ga bỏ chạy với tốc độ cao vứt bỏ gậy tre dọc đường. Quá trình truy bắt lực lượng Công an bắt giữ được Cao Xuân H2 và Nguyễn Quang M2. Đến khoảng 02 giờ ngày 20/10/2024, Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cao Xuân H2, Nguyễn Quang M2 đã có hành vi gây rối trật tự công cộng. Thu giữ gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số khung RLHJA3917LY216061, không gắn biển kiểm soát; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr màu trắng. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản làm việc với tổ công tác Công an phường T xác định vị trí và quãng đường truy bắt các đối tượng trên đoạn đường mới thuộc tổ dân phố T, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang dài 1,7km.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra thu giữ hình ảnh Camera an ninh của Công an thị xã V; phối hợp với Công an phường T, thành phố B tại khu vực đường V hướng đi cầu vượt T; khu vực vòng xuyến đường V gần cầu vượt T; khu vực tổ dân phố C, phường T có hình ảnh sự việc. Tiến hành lập biên bản cho Đỗ Anh Đ3, Hoàng Minh H9, Cao Xuân H2, Lê Công M, Nguyễn Quang M2, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3, Nguyễn Đức A, Lương Gia T1, Vũ Hoàng Gia K, Hoàng Trung K1, Nguyễn Trí Đ5, Trần Việt T6, Trần Gia H11, Đào Huy T xem lại hình ảnh Camera trên, kết quả các đối tượng thừa nhận hình ảnh của bản thân cùng nhóm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại đường V, đường mới thuộc phường T, thị xã V ngày 20/10/2024.
Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Anh Đ3 xác định vị trí cả nhóm tập trung lấy gậy tre làm hung khí mang đi đánh nhau tại khu vực bãi đất trống phía sau Trường THCS T10, thành phố B và chụp ảnh đặc điểm những chiếc gậy tre tại hàng rào. Tiến hành lập biên bản cho Hoàng Trung K1, Đào Huy T, Cao Xuân H2, Nguyễn Quang M2, Lê Công M, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3, Vũ Hoàng Gia K, Nguyễn Đức A, Lương Gia T1 xem lại bản ảnh các bị cáo cùng xác định vị trí Đỗ Anh Đ3 xác định trong bản ảnh đúng là vị trí cả nhóm tập trung lấy hung khí đánh nhau, hình ảnh gậy tre mà Cơ quan điều tra thu thập có đặc điểm tương tự với gậy tre mà Đỗ Anh Đ3, Lương Gia T1, Vũ Hoàng Gia K, Đào Huy T, Trần Gia H11, Trần Việt T6 lấy dùng làm hung khí để đi đánh nhau. Tiến hành cho Nguyễn Quang M2, Đỗ Anh Đ3, Lê Trường T4, Vũ Hoàng Gia K, Nguyễn Đức A, Lương Gia T1, Đào Huy T, Hoàng Trung K1, Hoàng Minh H9 vẽ lại đoạn đường các đối tượng có hành vi gây rối trật tự công cộng, trên cung đường V và đường mới thuộc tổ dân phố C, phường T. Kết quả các bị cáo vẽ đúng đoạn đường đã điều khiển xe, mang theo hung khí đi đánh nhau và phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo.
Trong các ngày 20/10/2024 đến ngày 25/10/2024, ngày 27/10/2024 đến 01/11/2024, 28/12/2024, 20/3/2025 và ngày 21/3/2025, Cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo Cao Xuân H2, Nguyễn Trí Đ5, Lê Trường T4, Trần Việt T6, Trần Gia H11, Hoàng Minh H9, Thân Ngọc V1, Trần Gia H11, Thân C, Lương Gia T1, Vũ Hoàng Gia K, Nguyễn Đức A, Lê Công M, Hoàng Trung K1 nhận dạng các đối tượng cùng tham gia gây rối trật tự công cộng ngày 20/10/2024. Kết quả các bị cáo đều nhận dạng được các đồng phạm tham gia cùng thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. (Bút lục 192-250)
Đối với đối tượng Trần Gia H11, Trần Việt T6, Nguyễn Trí Đ5, Hoàng Minh H9 tại thời điểm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng ngày 20/10/2024 đều chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm. Ngày 28/3/2025, Cơ quan điều tra đã có công văn đến UBND phường T, phường Đ, thành phố B nơi các đối tượng trên cư trú đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Giáo dục tại xã, phường”. (Bút lục 928-931)
Đối với nhóm thanh niên gồm khoảng 08 người, đi trên 04 chiếc xe mô tô nhập vào nhóm các bị cáo tại khu vực vòng xuyến cầu vượt T và 02 nam thanh niên cầm theo tuýp sắt bị các bị cáo truy đuổi trên đường V. Quá trình điều tra các bị cáo và người liên quan đều không xác định được nhân thân, lai lịch đặc điểm của các đối tượng trên, không xác định được đặc điểm biển số xe mô tô các đối tượng sử dụng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với hung khí vụ án là những chiếc gậy tre, quá trình điều tra các bị cáo Đỗ Anh Đ3, Lương Gia T1, Vũ Hoàng Gia K, Trần Gia H11, Trần Việt T6 đều khai nhận sau khi bị lực lượng Công an phường T truy đuổi đã vứt những chiếc gậy tre đi nhưng không nhớ cụ thể vị trí vứt nên Cơ quan điều tra không có căn cứ rà soát thu hồi. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đào Huy T xác định vị trí vứt chiếc gậy tre thuộc khu vực cánh đồng tổ dân phố T, phường T; tiến hành lập biên bản rà soát nhưng không thu giữ được.
Về vật chứng thu giữ: Đối với 01 xe mô tô Honda Wave không có biển kiểm soát do bị cáo Hoàng Trung K1 điều khiển là xe do Đào Huy T mượn của bạn không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể; 01 xe mô tô Honda Wave màu đen không có biển kiểm soát do bị cáo Thân Ngọc V1 điều khiển là xe do T8 Công Chính mượn của bạn là Thân Ngọc N7- sinh ngày 05/3/2010, trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã V, anh N7 mượn xe của bạn không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể và đã trả lại cho người này; 01 xe mô tô Honda Wave màu trắng không có biển kiểm soát mượn do bị cáo Nguyễn Đức A điều khiển, Đức A mượn của bạn không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể và đã trả lại cho người này. Quá trình điều tra các bị cáo T, C3, Đức A đều khai nhận khi mượn xe không nói về việc sử dụng xe mô tô gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh tạm giữ những chiếc xe mô tô trên.
Đối với 01 xe mô tô Honda Ablade biển kiểm soát 98E1-693.88 do bị cáo Lê Trường T4 điều khiển là xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị H5- sinh năm 1978, trú tại thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (chị H5 là mẹ đẻ của bị cáo T4); quá trình điều tra xác định khi T4 tự ý lấy xe chị H5 không biết, không cho T4 mượn xe; ngày 20/01/2025 chị H5 đã giao nộp chiếc xe trên cho Cơ quan điều tra để phục vụ điều tra nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Đối với 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 98AA- 098.39 do bị cáo Lương Gia T1 giao nộp, quá trình điều tra xác định chiếc xe này do T1 bỏ tiền ra mua làm phương tiện đi lại, đăng ký chính chủ của Lương Gia T1 nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định. (Bút lục 543)
Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xám thu giữ của Nguyễn Quang M2 là của bị cáo M2 không dùng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu trắng thu giữ của Cao Xuân H2 là của bị cáo Cao Xuân H2 sử dụng làm phương tiện vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98B3-672.89 thu giữ khi bắt quả tang là của Cao Xuân H2 điều khiển khi thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị Thanh H14- sinh năm 1994, trú tại tổ F, phường T, thành phố B (chị H14 là chị dâu của H2), H2 tự lấy chiếc xe này đi, chị H14 không biết, không cho H2 mượn xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H14.
Đối với xe mô tô Honda Wave màu đỏ biển kiểm soát 98B3-922.47 do bị cáo Lê Công M điều khiển khi thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đặng Hoàng L3- sinh năm 2007, trú tại tổ G, phường N, thành phố B cho bị cáo mượn làm phương tiện để đi lại (anh L3 là bạn của M), khi cho mượn xe anh L3 không biết việc M sử dụng để làm phương tiện phạm tội; anh L3 đã giao nộp chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan điều tra phục vụ điều tra nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho anh L3.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 25/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố Lê Công M, Đào Huy T, Cao Xuân H2, Nguyễn Quang M2, Nguyễn Đức A, Vũ Hoàng Gia K, Lương Gia T1, Đỗ Anh Đ3, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3, Hoàng Trung K1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo Đào Huy T, Hoàng Trung K1, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3 thống nhất khai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/10/2024, khi cả nhóm gồm Đào Huy T, Hoàng Trung K1, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3, Trần Việt T6, Nguyễn Trí Đ5 đang ở khu vực cầu C thì Đào Huy T nhận được cuộc gọi qua ứng dụng meseger của Hoàng Minh H9, T đã mở loa ngoài và cho cả nhóm nghe. Cả nhóm đều nghe thấy Hoàng Minh H9 rủ nhóm T đi đánh nhau. Sau khi nghe Hoàng Minh H9 rủ thì cả nhóm đồng ý và cùng nhau đi gia nhập với nhóm của bị cáo Lê Công M đi tìm đối tượng đánh nhau.
HĐXX công bố lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có trong có trong hồ sơ vụ án.
Qua tranh tụng tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố Lê Công M, Đào Huy T, Cao Xuân H2, Nguyễn Quang M2, Nguyễn Đức A, Vũ Hoàng Gia K, Lương Gia T1, Đỗ Anh Đ3, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3, Hoàng Trung K1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đề nghị:
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Lê Công M từ 01 năm 08 tháng đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi ngày bị tạm giữ từ 20/10/2024 đến 29/10/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Đào Huy T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 10 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X và Công an xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương Gia T1 từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 30/12/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trường T4 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T và Công an xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức A từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T, và Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Anh Đ3 từ 01 năm 06 tháng tháng đến 01 năm 08 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường S và Công an phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Hoàng Gia K từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T và Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cao Xuân H2 từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 04 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 04 năm 04 tháng đến 04 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T và Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Thân Ngọc V1 từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 07 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 02 năm 10 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T và Công an phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang M2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 02 năm 10 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Thân Công C3 từ 01 năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T và Công an phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trung K1 từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
2. Về vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 98AA- 098.39;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu trắng;
- Trả lại:
- 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xám cho bị cáo Nguyễn Quang M2. Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- 01 (một) xe mô tô Honda Ablade biển kiểm soát 98E1- 693.88 cho chị Nguyễn Thị H5- sinh năm 1978; trú tại thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Các bị cáo Lê Công M, Đào Huy T, Cao Xuân H2, Nguyễn Quang M2, Nguyễn Đức A, Vũ Hoàng Gia K, Lương Gia T1, Đỗ Anh Đ3, Lê Trường T4, Thân Ngọc V1, Thân Công C3, Hoàng Trung K1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên) Nguyễn Linh Chi |
Bản án số 112/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 112/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 01 giờ 15 phút đến khoảng 02 giờ ngày 20/10/2024, tại khu vực bãi đất trống phía sau Trường THCS T10, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Lê Công M- sinh ngày 27/10/2007 Đỗ Anh Đ3- sinh ngày 29/11/2006; Cao Xuân H2- sinh ngày 06/8/2006; Nguyễn Quang M2- sinh ngày 28/01/2007; Nguyễn Đức A- sinh ngày 18/08/2006; Vũ Hoàng Gia K- sinh ngày 08/05/2007; Hoàng Minh H9- sinh ngày 28/01/2009; Lương Gia T1- sinh ngày 02/04/2006; Hoàng Trung K1- sinh ngày 19/07/2008; Đào Huy T- sinh ngày 27/8/2008; Nguyễn Trí Đ5- sinh ngày 12/04/2009; Trần Gia H11- sinh ngày 28/01/2009 Lê Trường T4- sinh ngày 10/02/2008 Trần Việt T6- sinh ngày 06/11/2008 Thân N- sinh ngày 27/01/2008 Thân Công Chính- sinh ngày 11/08/2008 cùng rủ nhau điều khiển xe mô tô, mang theo gậy tre để làm hung khí tìm nhóm khác để đánh nhau Cả nhóm điều khiển xe mô tô mang theo gậy tre đi ra đường V hướng Đài truyền hình B đến ngã tư đèn giao thông cạnh Đài truyền hình B thì rẽ trái quay đầu, đi hướng cầu vượt T rồi vòng ngược lại đi trên đường V; trên đường đi cả nhóm điều khiển xe đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, bóp còi, rú ga, hò hét, đồng thời mang theo hung khí là gậy tre khua khoắng đe dọa người đi đường. Khi đến gần khu vực Đ tỉnh Bắc Giang, cả nhóm thấy có 02 nam thanh niên đi xe mô tô Honda AirBlade (không biển kiểm soát) cầm theo gậy sắt đang di chuyển ngược chiều. Hoàng Trung K1 điều khiển xe chở sau Đào Huy T quay đầu xe lại tách đoàn đi về nhà, những người còn lại trong nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô tăng ga, cầm theo gậy tre đuổi theo 02 nam thanh niên trên để đánh nhau khi đuổi đến bùng binh cầu vượt T thì không đuổi kịp. Quá trình truy đuổi, cả nhóm điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, bóp còi, rú ga, hò hét, trong đó Gia T1, K, Anh Đ3, H11, T6 ngồi sau xe mô tô cầm gậy tre khua khoắng, đe dọa người đi đường, rồi cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô quay đầu tại bùng binh chân cầu vượt T rồi đi trên đường V theo hướng Đài truyền hình tỉnh B, rồi rẽ phải đi vào đường mới theo hướng đi phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang tiếp tục tìm người đánh nhau. Khi đi đến đoạn đường mới thuộc khu vực tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cả nhóm điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, bóp còi, rú ga, hò hét và mang theo hung khí thì bị lực lượng Công an phường T đang tuần tra kiểm soát, phát hiện nhóm đối tượng nên đuổi theo truy bắt. Cả nhóm tăng ga bỏ chạy vứt gậy tre dọc đường đi; Công an phường T truy đuổi các bị cáo đến địa phận tổ dân phố T, phường T, thị xã V thì bắt giữ được Cao Xuân H2, Nguyễn Quang M2.
