|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/3/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyên
Bà Lương Thị Quyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 16/2025/HNGĐ-TLST ngày 14/01/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐ-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh ngày 19/6/1992.
Địa chỉ: Số nhà A, đường P, khu C, phường T, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh ngày 06/02/1984.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Lê Xá, xã Lê Ninh, thị Xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Canada.
(Chị H, anh G đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh G tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 08/11/2017. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 6 năm. Để phát triển kinh tế, tháng 10/2023 anh G sang Canada lao động, từ khi đi anh G chưa về Việt Nam lần nào. Do vợ chồng sống xa nhau nên hai bên không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.
Về quan hệ con chung: Chị và anh G có 2 con chung là Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 02/6/2019 và Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 13/01/2022. Hiện nay hai con đang ở với chị. Ly hôn chị và anh G thỏa thuận, chị nuôi cháu Minh C, anh G nuôi cháu Ánh D. Trong thời gian anh G không ở Việt Nam, chị sẽ trực tiếp nuôi cháu D. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh G tự thỏa thuận, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn G hiện nay đang lao động tại Canada, do chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh G nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh G thông qua gia đình. Chị Nguyễn Thị N là chị gái anh G xác định, anh G hiện đang lao động tại Canada, địa chỉ của anh G ở nước ngoài chị không biết, bố mẹ chị đã già yếu, không sử dụng điện thoại thông minh nên anh G thường xuyên liên lạc với chị. Chị N đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh G biết. Thông qua gia đình anh G có quan điểm đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung anh G có nguyện vọng được nuôi con Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 02/06/2019, đồng ý để chị H nuôi con Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 13/01/2022. Trong thời gian anh ở nước ngoài, chị H tiếp tục nuôi dưỡng hai con, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung các bên tự thỏa thuận. Do điều kiện công việc anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho chị gái là Nguyễn Thị Ngọc N1 thay các văn bản tố tụng của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh G đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị H được ly hôn anh G. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 02/06/2019 cho anh Nguyễn Văn G chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 13/01/2022 cho chị Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh G không ở Việt Nam, tiếp tục giao cháu D cho chị H chăm sóc. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Vũ Thị H có địa chỉ tại số nhà A, đường P, khu C, phường T, tỉnh Hải Dương. Anh Nguyễn Văn G có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Thôn L, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Hiện nay anh G đang lao động tại Canada. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh G tại Canada. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh G cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh G được biết, anh G thường xuyên liên lạc với chị gái là Nguyễn Thị N, chị N đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh G biết. Thông qua gia đình anh G cũng đã có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con.
Anh G, chị H đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 08/11/2017, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Tháng 10/2023 anh G sang Canada lao động, vợ chồng mỗi người sống một nơi, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh G. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình anh G cũng có quan điểm xác định không còn tình cảm với chị H và đồng ý ly hôn. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh G đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
- Về quan hệ con chung: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn G có hai con chung là Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 02/06/2019 và Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 13/01/2022. Ly hôn chị H, anh G thỏa thuận mỗi người nuôi một con, trong thời gian anh G không ở Việt Nam anh G ủy quyền cho chị H tiếp tục nuôi cháu D. Xét thấy, hiện tại cháu D và cháu C còn nhỏ, đang sinh sống cùng mẹ, các bên thỏa thuận việc nuôi con, chăm sóc con là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của các đương sự. Giao cháu D cho anh G chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu C cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 02/06/2019 cho anh Nguyễn Văn G chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 13/01/2022 cho chị Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Trong thời gian anh G không ở Việt Nam, tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh D cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn G được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005469 ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Văn G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 112/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 112/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
