Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 112/2025/HS-PT

Ngày 06 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông;

Ông Vũ Thế Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 405/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn Đ; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 208/2024/HS-ST ngày 10-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn Đ, sinh năm 1990 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Nơi sinh sống: khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Huy H và bà Phạm Thị N; bị cáo chưa có vợ con; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 10/7/2023, bị Phòng C Công an tỉnh Đ xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng hóa cho phép đối với xe ô tô tải” và phạt bổ sung bằng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ ngày 10/7/2023 đến hết ngày 10/9/2023.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại và những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn Đ có giấy phép lái xe hạng C theo quy định và đang làm thuê cho cửa hàng vật liệu xây dựng “Hoàng Thị T” ở tổ B, khu A, xã L, huyện L. Ngày 10/7/2023, Đ điều khiển xe ô tô biển số 60C2-299.67 vi phạm Luật giao thông nên bị Phòng C Công an tỉnh Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng và phạt bổ sung bằng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép lái xe trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 10/7/2023 cho đến hết ngày 10/9/2023. Sau khi Đ bị tước giấy phép lái xe thì xe ô tô trên được chủ cửa hàng giao lại cho anh Quách Văn T1 lái.

Buổi sáng ngày 17/8/2023, Đ thấy trên nhóm Zalo do cửa hàng vật liệu xây dựng lập có thông báo về việc điều động xe ô tô biển số 60C2-299.67 đi đến mỏ đá Tân Cang chở đá nhưng lúc này T1 không có mặt ở nơi làm việc. Đến 12 giờ 55 phút cùng ngày, vẫn không thấy anh T1 đến cửa hàng, trên xe có cắm sẵn chìa khóa nên Đ tự ý lấy xe ô tô biển số 60C2-299.67 và điều khiển đi chở đá. Khi Đ điều khiển xe đi được khoảng 400m trên đường V thuộc xã L thì đến đoạn đường cong về phía bên trái, Đ điều khiển xe lấn qua phần đường ngược chiều thì va chạm với xe mô tô biển số 60C1-326.97 do anh Quảng Văn Đ1, sinh năm 1985, trú tại khu A, xã L, L, Đồng Nai điều khiển lưu thông hướng ngược lại, anh Đ1 lưu thông đúng phần đường quy định, làm xe và anh Đ1 té ngã. Hậu quả anh Đ1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 88%.

Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 17/8/2023 và Biên bản dựng lại hiện trường ngày 13/11/2023 xác định:

  1. Hiện trường chung.

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong. Có vạch sơn liền nét và đứt nét phân chia chiều đường. Mặt đường trải nhựa phẳng, mỗi chiều rộng 3,00m.

  1. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
  • (1) Xe ô tô biển số 60C-299.67
  • (2) Xe mô tô biển số 60C1-326.97
  • (3) Vết cày xe mô tô biển số 60C1-326.97.

Lấy trụ đèn 52 ở bên trong lề trái theo hướng lưu thông đường liên xã L - L đi Quốc lộ E làm điểm mốc cố định.

Lấy mép đường bên phải theo hướng lưu thông đường liên xã L- L đi Quốc lộ E làm mép đường chuẩn.

  1. Đồ vật, tài liệu, tài sản phương tiện, tang vật, dấu vết thu được.
  • (1). Xe ô tô biển số 60C-299.67. Xe ô tô dừng, đầu xe hướng về đường liên xã L-L, đuôi xe hướng về đường Q.

Hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái vuông góc với mặt đường cách mép đường chuẩn là 3,30m.

Hình chiếu tâm trục bánh sau bên trái vuông góc với mặt đường cách mép đường chuẩn là 3,00m. Cách hình chiếu vuông góc tâm trục bánh trước xe mô tô (2) là 2,50m.

  • (2). Xe mô tô biển số 60C1-326.97. Xe mô tô (2) ngã về bên phải. Đầu xe hướng về đường Q, đuôi xe hướng về đường liên xã L - L.

Hình chiếu vuông góc, tâm trục bánh trước vuông góc với mặt đường cách mép đường chuẩn là 3,00m, cách điểm mốc cố định là 18,10m.

Hình chiếu vuông góc tâm trục bánh sau vuông góc với mặt đường cách mép đường chuẩn là 3,30m.

  • (3) Vết cày xe mô tô biển số 60C1-326.97. Sau tai nạn tại hiện trường để lại vết cày (3) đứt quãng liên tiếp dài 4,00m.

Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 2,80m.

Cuối vết cày nằm ở xe mô tô (2). (Bút lục 59-62).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1162/KLTTCT-TTPYĐN ngày 22/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của Quảng Văn Đ1 như sau:

  1. Các kết quả chính: (Khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng)
  • - Sẹo mổ mặt trước cẳng tay trái kích thước 06x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
  • - Vết biến đổi sắc tố da mặt trước cánh tay trái. Tỷ lệ: 01%
  • - Sẹo mổ mặt ngoài đầu trên đùi phải kích thước 06x0,5cm. Tỷ lệ: 02%
  • - Sẹo mổ mặt ngoài đùi phải kích thước 17x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
  • - Sẹo mổ dẫn lưu đùi phải kích thước 0,6x0,3cm. Tỷ lệ 01%
  • - Sẹo mổ 1/3 trên mặt ngoài cẳng chân phải kích thước 13,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
  • - Sẹo mổ 1/3 trên cẳng chân phải (vùng gối phải) kích thước 10x0,3cm. Tỷ lệ 02%
  • - Sẹo mổ xuyên đinh xương gót phải kích thước 0,5x0,2cm. Tỷ lệ 01%
  • - Sẹo mổ xuyên đinh xương gót phải kích thước 0,5x0,2cm. Tỷ lệ 01%
  • - Sẹo mổ vùng mông trái (đầu trên mặt ngoài sau đùi trái) kích thước 8,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
  • - Sẹo mổ mặt ngoài đùi trái kích thước 16x0,3cm. Tỷ lệ 02%
  • - Sẹo mổ dẫn lưu đùi trái kích thước 0,5x0,3cm. Tỷ lệ 01%
  • - Sẹo mổ xuyên đinh lồi củ xương chày trái kích thước 0,8x0,3cm. Tỷ lệ 01%
  • - Sẹo mổ xuyên đinh lồi củ xương chày trái kích thước 0,8x0,5cm. Tỷ lệ 01%
  • - Sẹo mổ mặt ngoài 1/3 dưới đùi trái kích thước 05x0,5cm. Tỷ lệ 02%
  • - Sẹo mổ mặt trước 1/3 dưới đùi trái kích thước 02x0,3cm. Tỷ lệ 01%
  • - Xuất huyết khoang dưới nhện đã điều trị hiện không còn hình ảnh xuất huyết và không để lại di chứng thần kinh. Tỷ lệ 08%
  • - Trật khớp vai phải đã điều trị khỏi. Tỷ lệ 03%
  • - Gãy củ lớn (mẻ một phần) đầu trên xương cánh tay phải (tổn thương khớp vai phải) gây hạn chế vận động vai phải mức độ ít. Tỷ lệ 15%
  • - Gãy xương quay trái can tốt. Tỷ lệ 10%
  • - Gãy mỏm thân trụ trái. Tỷ lệ 06%
  • - Gãy xương thang, xương thê cổ tay trái gây di chứng ảnh hưởng hạn chế vận động tại cổ tay trái mức độ ít. Tỷ lệ 05%
  • - Sẹo mỏm cụt đốt 1 ngón II bàn tay trái (mất 2 đốt ngoài ngón II bàn tay trái). Tỷ lệ 06%
  • + Gãy ổ cối trái. Tỷ lệ 11%
  • + Gãy cổ xương đùi phải. Tỷ lệ 31%
  • + Gãy thân xương đùi phải, can xấu. Tỷ lệ 26%
  • + Gãy thân xương đùi trái, can xấu. Tỷ lệ 26%
  • + Gãy đầu trên hai xương cẳng chân phải, can xấu lệch trục. Tỷ lệ 21%
  1. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quảng Văn Đ1 - 1985 tại thời điểm giám định là: 88% (Tám mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư (Bút lục 70-74).

Tại Công văn số 726/TTPY/2023 ngày 11/12/2023 xác định nồng độ cồn của Quảng Văn Đ1, sinh năm 1985 có kết quả xét nghiệm là 206.75mg/dl (206mg/100ml) (Bút lục 76).

Tại Bản kết luận giám định số: 6520/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh Bộ C1 kết luận:

  1. Xe ô tô biển số 60C-299.67 có va chạm với xe mô tô biển số 60C1-326.97. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa các phương tiện:

1.1. Dấu vết trượt xước bám chất màu đen mặt ngoài lốp và mâm bánh trước bên trái xe ô tô có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh phù hợp dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô (tay lái, phía trên cánh yếm) có chiều từ trước về sau. Va chạm khi xe mô tô chưa ngã phải.

1.2. Dấu vết trượt sạch bụi bám chất màu tím mặt ngoài bánh ngoài trục 2 xe ô tô có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh phù hợp dấu vết trượt xước bám chất màu đen, biến dạng các chi tiết bên trái xe mô tô (cung chắn bùn, giỏ xe, bánh xe, giảm xóc, cần sang số, để chân trước, ốp thân xe, ốp đèn hậu) có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải. Va chạm khi xe mô tô đã ngã phải.

  1. Không đủ cơ sở xác định xe ô tô biển số 60C-299.67 có va chạm với nạn nhân hay không.
  2. Phía trước bên trái xe ô tô và phía trước bên trái xe mô tô là vị trí va chạm đầu tiên giữa các phương tiện. Vị trí va chạm trên mặt đường thuộc phần đường bên phải đường V, hướng từ đường liên xã L - L đi Quốc lộ E.
  3. Khi va chạm xe mô tô có trạng thái chuyển động trên đường V, hướng từ đường liên xã L - L đi Quốc lộ E; xe ô tô ở trạng thái chuyển động theo chiều ngược lại.
  4. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa các phương tiện trên với vật, phương tiện khác.
  5. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển số 60C-299.67 và xe mô tô biển số 60C1-326.97 tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết để lại tại hiện trường (Bút lục 77, 78).

Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

  • - 01 (một) xe ô tô biển số 60C-299.67;
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 130182 của xe ô tô biển số 60C-299.67;
  • - 01 (một) chứng nhận kiểm định số DA2404232 của xe ô tô biển số 60C-299.67;
  • - 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] hạng C mang tên Bùi Văn Đ;
  • - 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] hạng C mang tên Quách Văn T1;
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 60C1-326.97;
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số [...] hạng A1 mang tên Quảng Văn Đ1.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ.

- 01 (một) xe ô tô biển số 60C-299.67, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 130182 của xe ô tô biển số 60C-299.67, 01 (một) chứng nhận kiểm định số DA2404232 của xe ô tô biển số 60C-299.67 là tài sản, tài liệu thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị T, sinh năm 1991, trú tại khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 (một) xe mô tô biển số 60C1-326.97 là tài sản của ông Vũ Thanh H1, sinh năm 1973, trú tại khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L trả lại cho ông Vũ Thanh H1.

- 01 (một) giấy phép lái xe số [...] hạng C ghi tên tên Quách Văn T1 là của Quách Văn T1, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho Quách Văn T1.

- 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] hạng A1 mang tên Quảng Văn Đ1. Quá trình điều tra xác định anh Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 60C1-326.97 lưu thông khi trong cơ thể có nồng độ cồn 206.75mg/100ml nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã chuyển giấy phép lái xe số [...] hạng A1 ghi tên Quảng Văn Đ1 đến Đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

- 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] hạng C ghi tên Bùi Văn Đ chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ truy tố, xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Bùi Văn Đ và chủ phương tiện xe ô tô biển số 60C-299.67 đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại. Bị hại đã có đơn bãi nại đối với bị cáo Đ.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án sơ thẩm số: 206/2024/HS-ST ngày 10-9-2024, Tòa án nhân dân huyện Long Thành và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số: 1984/2024/TB-TA ngày 11-10-2024 đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo Bùi Văn Đ kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về kháng cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, không nặng như kháng cáo đã nêu. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về căn cứ quyết định hình phạt và kháng cáo:

2.1. Về căn cứ quyết định hình phạt:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường xong cho bị hại; bị hại có một phần lỗi là điều khiển xe khi trong máu có nồng độ cồn, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới.

2.2. Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo có giấy phép lái xe; tuy nhiên, trước đó đã bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tước giấy phép lái xe có thời hạn. Trong thời gian bị tước giấy phép lái xe, bị cáo vẫn điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông và gây tai nạn, hậu quả làm bị hại thương tích 88%, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung ở khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (không có giấy phép lái xe). Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự quyết định mức hình phạt 03 năm tù là mức khởi điểm đầu khung hình phạt bị truy tố là đã xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 206/2024/HS-ST ngày 10-9-2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số: 1984/2024/TB-TA ngày 11-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành

1. Về tội danh và hình phạt:Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Long Thành (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/HS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 112/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger