Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2025/HS-ST

Ngày: 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Tuyên
  2. Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Quỳnh T - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Đức M, Sinh năm 1977; CCCD [...]; Giới tính: Nam; ĐKTT: SN B T, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: S H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị L; Vợ Lê Quỳnh A (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 02/06/2021, bị Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng.

Nhân thân: Ngày 16/9/1996, bị Công an Tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; Ngày 05/10/2008, bị Công an thành phố T xử phạt chính về hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác; Ngày 25/6/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 14 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chấp hành xong bản án ngày 04/10/2013; Ngày 16/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 29/8/2019.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/10/2024 đến ngày 01/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 25/10/2024, Phan Kiều H, sinh năm 1977 (trú tại A Đ, phường L, thành phố T) gọi điện cho Nguyễn Đức M hỏi mua H1 để sử dụng. Sau khi mua được H1 của M, H mang về nhà, một mình sử dụng hết gói Heroin. Đến khoảng 20 giờ tối cùng ngày, H đang đứng ở ngõ B Đ, phường L thì bị Công an phường L kiểm tra, H đã khai nhận hành vi sử dụng ma túy của mình và khai báo nguồn gốc số ma túy H sử dụng là mua của Nguyễn Đức M.

Ngày 26/10/2024, M tự giác đến Công an phường L, TP. đầu thú đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động SamSung gắn sim số 0972407909 và 01 gói giấy có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột trắng, M khai là Heroin M1 đang cất giấu để bán kiếm lời.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành test nước tiểu đối với Nguyễn Đức M và Phan Kiều H, kết quả cả 2 đều dương tính với ma túy Heroin; Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của M tại S H, phường Đ, thành phố T, không phát hiện thu giữ gì; Cơ quan điều tra cũng đã trưng cầu giám định đối với gói bột trắng do M giao nộp theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 4091/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng của phong bì phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,075gam, loại Heroine".

Quá trình điều tra Nguyễn Đức M khai nhận: Chiều tối ngày 25/10/2024 Phan Kiều H gọi đến điện thoại số sim 0972.402.xxx của M hỏi mua ma túy, M đồng ý bán ma túy cho H và nói H chuyển vào tài khoản của M 500.000 đồng. H dùng tài khoản V số 0365439636 của H chuyển số tiền 500.000₫ đến số tài khoản số 0985949716 của M mở tại Ngân hàng M2. Sau khi nhận được tiền, M một mình đi đến khu vực Cầu T đường H, phường Đ, thành phố T mua của một người đàn ông tên P, khoảng 35 tuổi (M không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói Heroin với giá 200.000đồng. Sau khi mua được ma túy, M mang đến ngõ B Đ, phường L, thành phố T giao cho H. Sáng ngày 26/10/2024, M tiếp tục đến khu vực Cầu T đường H, phường Đ, thành phố T gặp P, mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó M mang gói ma túy về nhà, lấy ra một phần sử dụng cho bản thân, số còn lại gói vào giấy, cất giấu để có người mua thì bán kiếm lời. M chưa kịp bán thì nghe tin H bị bắt nên M đến trụ sở Công an phường L xin đầu thú đồng thời giao nộp gói ma túy trên và 01 điện thoại Samsung của M. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa gồm: Số ma túy còn lại sau giám định và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; số imel: 357533/64/055063/7; Bên trong gắn sim số 0972402909 của M giao nộp khi đầu thú.

Đối với người nam giới tên P, là người M khai đã bán ma túy cho M, do M không biết nhân thân lai lịch người này, ngoài lời khai của M không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Kiều H và Nguyễn Đức M, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố T Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Cáo trạng số 35/CTr-VKSTPTH ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Đức M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 - của Bộ luật hình sự tuyên bố Nguyễn Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt Nguyễn Đức M từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Vật chứng vụ án: áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu nộp NSNN 01 điện thoại Samsung của M; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ hành vi, mục đích của bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/10/2024, tại 39/45/601 H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đức M đã có hành vi cất giấu 0,075 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo; Đầu thú; Bố bị cáo (ông Nguyễn Văn N) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Nhân thân xấu. Vì vậy HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên cần cách li bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và đề phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Đối với người tên P mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết nhân thân lai lịch, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý; Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Kiều H và Nguyễn Đức M, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố T Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như vậy là đúng quy định pháp luật.

[5] Vật chứng vụ án: Số ma túy mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Chiếc điện thoại bị cáo đã sử dụng để liên hệ bán ma tuý cho H là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp NSNN theo quy định tại khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.

[6] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2024
  • Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong do Phòng K - Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Thị Thanh L1, Lại Thị Thanh L2, niêm phong số ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, S, số Imel: 357533640550637, điện thoại gắn kèm sim, điện thoại đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng nêu trên đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP., theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” số 49/2025/THA ngày 16/01/2025 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức M phải chịu 200.000đ án phí HSST
  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 112/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức M Mua bán trá phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger