TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HNST
Ngày: 13/12/2024
V/v "Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Dung
2. Bà Nguyễn Minh Phương
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 427/2024/TLST-HN ngày 04 tháng 10 năm 2024. Về việc: "Tranh chấp ly hôn".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 917/2024/QĐST-HN ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh Thủy T S năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: Số A, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Khai Minh H sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số G, C, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:
Bà và ông H tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 07/01/2013 tại Ủy ban nhân dân phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận kết hôn số 03/2013, quyển số 01/2013. Quá trình chung sống giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên tranh cãi. Sau nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn nhằm duy trì quan hệ hôn nhân nhưng không đạt được kết quả như mong muốn. Bà và ông Hải ly T từ tháng 5 năm 2024.
Bà T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Khai Minh H. Về con chung: Ông bà có 01 con chung Khai Minh N (nữ) sinh ngày 16/12/2012. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Khai Minh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- Về sự vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh Thủy T1 và ông Khai Minh H xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/01/2013. Do vậy hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được cho nên giữa bà T1 và ông H không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ông bà ly thân từ tháng 5 năm 2024 đến nay. Bà T1 nhận thấy tình cảm giữa bà và ông H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà T1 và ông H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên thống nhất cho bà T1 ly hôn với ông H theo quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung và vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T1 và ông H có 01 con chung Khai Kim N1 (nữ) sinh ngày 16/12/2012. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xét thấy, bà T1 là người trực tiếp nuôi con từ khi sinh ra đến nay. Sau khi ông bà ly thân cháu N1 sống cùng bà T1 cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi con chung trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà T1 không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Con chưa thành niên các bên đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nên dành quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho ông H không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà T1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do xét xử vắng mặt ông H và bà T1 không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về nợ chung: Bà T1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do xét xử vắng mặt ông H và bà T1 không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh Thủy T1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0001569 ngày 09/7/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đã thu sang thành án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- - Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thanh Thủy T1 được ly hôn với ông Khai Minh H.
- Về con chung: Giao cháu Khai Kim N1 (nữ) sinh ngày 16/12/2012 cho bà Nguyễn Thanh Thủy T1 được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Khai Minh H không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh Thủy T1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0001569 ngày 09/7/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đã thu sang thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông Khai Minh H không ai được quyền ngăn cản.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 112/2024/HNST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 112/2024/HNST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
