|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Tám
- Ông Đoàn Văn Phồi
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu M - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 01/01/1986, tại tỉnh Tiền Giang
Tên thường gọi: không.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Dân tộc: Kinh. |
Quốc tịch: Việt Nam. |
Tôn giáo: Không |
|
Nghề nghiệp: làm thuê. |
Trình độ học vấn: 5/12. |
Giới tính: Nam |
Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y (đã chết);
Vợ: Đoàn Thị Thùy T, sinh năm 1987 (đã ly hôn).
Bị cáo có 01 người con sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 33/2010/HSST. Chấp hành xong án phí ngày 06/9/2010, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/6/2011. Đã xóa án tích.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Quân E, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng N là người nghiện ma tuý, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào sáng ngày 04/07/2024, Nam đón xe khách đi đến khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tìm gặp người đàn ông (không rõ họ, tên và địa chỉ cụ thể) để mua 2.200.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, N cất giấu số ma túy này trong người để dành sử dụng.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/7/2024, N điều khiển xe môtô loại Sonic, biển số 63B2-693.09 lưu thông trên Quốc lộ A hướng từ M - M để về nhà tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Khi N điều khiển xe lưu thông đến đoạn thuộc khu phố C, Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì N dừng xe để nghỉ mệt. Trong lúc đang nghỉ mệt, N nhìn thấy Tổ tuần tra của Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đang làm nhiệm vụ tuần tra phòng chống tội phạm trên địa bàn nên N bỏ chạy và nhảy xuống mương nước cặp Quốc lộ A nhưng bị lực lượng làm nhiệm vụ truy đuổi bắt giữ. Trong lúc bị truy bắt, N lấy từ trong túi quần J phía trước mà N đang mặc 01 túi nilong dạng Bzip màu trắng, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) vứt xuống mương nước thì bị lực lượng phát hiện thu giữ.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ghi vào lúc 11 giờ 55 phút ngày 06/7/2024 xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là tại đoạn bờ kênh cặp Quốc lộ A đoạn thuộc khu phố C, Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang: đoạn bờ kênh nơi xảy ra sự việc có độ dốc trục Đ - Tây, hướng Bắc tiếp giáp đường đan, hướng Nam là kênh nước và tuyến Quốc lộ A. Thời điểm bắt giữ bị cáo phát hiện tại đoạn bờ kênh được miêu tả trên có 01 chiếc dép bàn chân trái quai ngang màu đen kích thước (27x11)cm, bên trên có 01 to bzip viền đỏ kích thước (7,3x4)cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi ma túy.
* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- - 01 túi nilong dạng Bzip màu trắng, viền màu đỏ kích thước 7,3x4cm bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) được niêm phong có chữ ký của Võ Thành C, Nguyễn Hoàng N, Trần Duy D, Lê Thanh T1, cùng dấu mộc tròn của Công an P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh, bên trong gắn sim V (tình trạng bị vô nước);
- - Tiền Việt Nam đồng 4.200.000 đồng.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic biển số 63B2-693.09.
Tại Bản kết luận giám định số: 107/KL- KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,3771 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 95/CT-VKSTXCL ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- - Đối với vật chứng, đề nghị tịch thu điện thoại sung ngân sách Nhà nước; trả xe và tiền cho bị cáo; tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo Nguyễn Hoàng N thừa nhận lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang đúng là ma túy của bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/7/2024, tại bờ kênh cặp Quốc lộ A đoạn thuộc khu phố C, Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Hoàng N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 4,3771 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy để sử dụng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, nó cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích trong xã hội và phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh, bên trong gắn sim Viettel: tại phiên tòa, bị cáo khai dùng điện thoại này để liên hệ mua ma túy và không yêu cầu nhận lại nên cần Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tiền Việt Nam 4.200.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic biển số 63B2-693.09 do Nguyễn Văn Q1 Em đứng tên giấy chứng nhận xe. Qua điều tra anh Em khai đã bán xe này cho Nguyễn Hoàng N nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Nhận thấy xe được bị cáo dùng làm phương tiện đi lại, bị cáo cất giấu số ma túy trong người, xe không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Đối với ma túy còn lại sau giám định (bên trong 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 107 ghi ngày 08/7/2024 của biên bản giao nhận vật chứng) là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Đối với người đàn ông mà bị cáo N khai đi đến khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp để mua 2.200.000đồng ma túy. Do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/7/2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 107 ghi ngày 08/7/2024.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh, bên trong gắn sim V,
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng N tiền Việt Nam 4.200.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic biển số 63B2-693.09.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Hoàng N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Q1 Em vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Cẩm Loan |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng N - Tàng trữ trái phép chất ma túy
