|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 08 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Cao
Bà Dương Thị Sáu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thanh C; Tên gọi khác: không; sinh ngày 08/01/1985, tại Long An; nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; con ông Lê Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc O; vợ Cao Thị Hồng X và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/5/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L đến ngày 16/10/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B1 cho đến nay. (có mặt)
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Bùi Công L, sinh năm 1967 (có mặt);
Địa chỉ: số I Lô C, chợ N1, huyện B, tỉnh Long An.
2.3. Người làm chứng:
- Trần Quốc M, sinh ngày 27/12/2007 (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của Trần Quốc M: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1983 (có mặt);
Cùng địa chỉ: B, ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số C, Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Cao Thị Hồng X, sinh năm 1988 (có mặt);
- Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1951 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An
- Huỳnh Thị Ngọc X1, sinh năm 2004 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 2017, Lê Thanh C sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook cá nhân (C đã xóa tài khoản Facebook) thấy hiển thị một trang Facebook (Không nhớ rõ tên) rao bán súng, súng điện, gậy ba khúc... C vào xem và thấy hình ảnh khẩu súng ngắn K54 nên C nhắn tin thỏa thuận đặt mua với người bán (Không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 khẩu súng ngắn K54 và 05 viên đạn với giá 7.000.000 đồng. C cung cấp số điện thoại 0932.524.xxx để liên lạc giao hàng. C chuyển khoản đặt cọc trước số tiền 3.000.000 đồng (Do thời gian lâu nên C không lưu và không còn nhớ số tài khoản của người bán). Khoảng 04 ngày sau, một người nam (Không rõ lai lịch, đeo khẩu trang và đội nón bảo hiểm che kín mặt) gọi điện thoại cho C giao một gói hàng tại khu vực đường lộ nhựa gần nhà C. Sau khi nhận gói hàng, C mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 khẩu súng ngắn và đạn giống như thỏa thuận mua trước đó. Lúc này, C thanh toán trực tiếp số tiền 4.000.000 đồng còn lại cho người giao hàng. Sau đó, C đem súng và đạn cất giấu trên trần la phông trong nhà tại Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An để không cho người khác biết.
Khoảng 09 giờ, ngày 03/5/2024, C lấy khẩu súng bên trong có 5 viên đạn lắp sẵn trong băng bỏ vào túi quần Jean bên phải đang mặc trên người nhằm mục đích phòng thân trong lúc đi tìm một nhóm người (Không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực G thuộc xã P, huyện B, tỉnh Long An giải quyết mâu thuẫn. Trước khi đi, C rủ Trần Quốc M đang phụ công việc xây dựng cho C đi cùng để mua đồ trên G thì M đồng ý. C lấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 66V1-213.46 điều khiển chở M đi đến khu vực G và chạy vòng quanh tìm nhóm người mâu thuẫn nhưng C không tìm thấy. C tiếp tục chở M đến căn hộ A, Khu dân cư L thuộc Khu phố C, thị trấn B, huyện B do Hồ Minh T1 thuê để gặp người bạn tên Nhí Biển nói chuyện, do trước đó Nhí B có gọi điện thoại rủ C đến. C và M đi lên Phòng số 2, Lầu B để gặp Nhí B.
Một lúc sau, T1 vào phòng ngồi nói chuyện một vài câu rồi rời đi. Sau khi ngồi nói chuyện với “Nhí Biển” một vài câu, C lấy khẩu súng từ trong túi quần ra cất giấu dưới nệm tại vị trí chỗ ngồi; lúc này M ngồi gần nhìn thấy rõ sự việc. Tại đây, C sử dụng ma túy với những người khác trong phòng. Sau đó, P quay lại vào Phòng số 2, Lầu 2 ngồi cùng nhóm của C và Nhí B. Lúc này C vạch tấm nệm tại chỗ ngồi lên lấy khẩu súng và tháo băng đạn ra để kiểm tra thì còn đủ 5 viên đạn, rồi Cường L1 lại băng đạn vào súng. Khi đó, P nhìn thấy và hỏi C “cầm làm gì vậy?”, C trả lời “không có gì, lúc nãy có công chuyện nên đem theo”, rồi C cất giấu lại dưới tấm nệm và cả nhóm tiếp tục sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút, do có công việc nhà nên C kêu M xuống tầng trệt lấy xe chờ sẵn, còn C lén lấy khẩu súng từ dưới nệm ra giấu vào trong người đem ra ngoài phòng chuẩn bị đi về. Trước khi về, C đi vệ sinh nên C cất giấu khẩu súng tạm trên đầu tủ gỗ trước cửa Phòng số 2, Lầu 2 của căn hộ, sau đó C vội đi xuống lầu để về nhà nên bỏ quên khẩu súng lại tại đây.
Khi về đến nhà, C nhớ đã bỏ quên khẩu súng tại căn hộ A nên C rủ M đi theo lên căn hộ của T1 để lấy đồ. Đến khoảng 19 giờ ngày 03/5/2024, M điều khiển xe chở C lên khu vực G ăn tối và chở C qua căn hộ A để lấy súng. Đến nơi, M và C cùng đi lên Phòng số 2, Lầu B, C nhìn kiểm tra trên đầu tủ gỗ trước cửa Phòng số 2 thấy khẩu súng của C vẫn còn. C và M đi vào Phòng số 2 thì lúc này chỉ có P; một lúc sau X1, Nhí B cũng quay lại phòng và cả nhóm tiếp tục sử dụng ma túy. C bị say ma túy, sau khi tỉnh lại C ra trước cửa phòng lấy khẩu súng từ trên đầu tủ gỗ xuống tháo băng đạn ra kiểm tra thì vẫn còn 5 viên đạn, C giấu trong người đem vào phòng để lại dưới nệm. Khoảng 05 phút sau, C lấy khẩu súng giấu trong người đem ra cất giấu lại trên đầu tủ gỗ trước cửa Phòng số 2, Lầu B. Sau đó, C vào phòng tiếp tục sử dụng ma túy. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an huyện B1 đến kiểm tra, phát hiện 01 khẩu súng ngắn loại K54 và băng đạn có 5 viên đạn bên trong được cất giấu trên đầu tủ gỗ phía trước Phòng 2, Lầu 2 của căn hộ nên lập biên bản thu giữ để điều tra.
* Tại Kết luận giám định số: 308 ngày 08/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận như sau:
- - 01 (Một) khẩu súng ngắn kim loại màu nâu đen, loại K54, thân súng dài 19,5 cm; trên thân súng bên trái có ký hiệu “No10027”; nòng súng dài 11,6 cm; đường kính nòng súng 7,62 mm; tay cầm kim loại màu nâu đen, không có ốp tay cầm, có băng tiếp đạn, tình trạng súng bên ngoài bị gỉ sét (ký hiệu A) là vũ khí quân dụng, loại súng K54 và bắn được đạn nổ, cỡ đạn (7,62x25) mm (ký hiệu A1-A2), trúng người có thể gây tử vong.
- - 04 (Bốn) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “38 86”, cỡ đạn (7,62x25) mm (ký hiệu A1) là vũ khí quân dụng, loại đạn sử dụng cho súng khẩu K54 và súng cỡ nòng tương tự. Trong quá trình thực nghiệm đã bắn 04 viên đạn trên, kết quả nổ 02 viên, 02 viên không nổ.
- - 01 (Một) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “53 bxn”, cỡ đạn (7,62x25) mm (ký hiệu A2) là vũ khí quân dụng, đạn sử dụng cho súng trên và cỡ nòng tương tự. Trong quá trình thực nghiệm đã bắn 01 viên đạn trên, kết quả không nổ.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng.
- Thu giữ qua khám nghiệm hiện trường:
- + 01 (Một) khẩu súng ngắn kim loại màu nâu đen, loại K54, thân súng dài 19,5 cm; trên thân súng bên trái có ký hiệu “No10027”; nòng súng dài 11,6 cm; đường kính nòng súng 7,62 mm; tay cầm kim loại màu nâu đen, không có ốp tay cầm, có băng tiếp đạn, tình trạng súng bên ngoài bị gỉ sét.
- + 04 (Bốn) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “38 86”, cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “53 bxn”, cỡ đạn (7,62x25) mm.
- Quá trình giám định và bắn thực nghiệm các đồ vật, vật chứng hiện còn:
- + 01 (Một) khẩu súng ngắn kim loại màu nâu đen, loại K54, dài 19,5 cm trên thân súng bên trái có ký hiệu “No10027", nòng súng dài: 11,6 cm, đường kính trong: 7,62 mm, tay cầm kim loại màu nâu đen, không có ốp tay cầm, có băng tiếp đạn, tình trạng súng bên ngoài gỉ sét.
- + 02 (Hai) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “38 86” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) viên đạn kim loại hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “53 bxn” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) vỏ đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, cỡ đạn (7,62x25) mm và 01 (Một) đầu đạn kim loại sau khi bắn thực nghiệm.
Hiện vật chứng trên đang được Đại Đội kho vũ khí đạn-thuộc Phòng kỹ thuật, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L quản lý.
Tại Bản Cáo trạng số 81/CT-VKSLA-P2 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Thanh C về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh C hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Lê Thanh C về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thanh C mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thanh C là phạt quản chế từ 01 năm đến 02 năm theo khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L tiêu hủy:
- + 01 (Một) khẩu súng ngắn kim loại màu nâu đen, loại K54, dài 19,5 cm trên thân súng bên trái có ký hiệu “No10027”, nòng súng dài: 11,6 cm, đường kính trong: 7,62 mm, tay cầm kim loại màu nâu đen, không có ốp tay cầm, có băng tiếp đạn, tình trạng súng bên ngoài gỉ sét.
- + 02 (Hai) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “38 86” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) viên đạn kim loại hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “53 bxn” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) vỏ đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, cỡ đạn (7,62x25) mm và 01 (Một) đầu đạn kim loại sau khi bắn thực nghiệm.
Hiện vật chứng trên đang được Đại Đội kho vũ khí đạn - thuộc Phòng kỹ thuật, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L quản lý.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 có số sim 0932524274, bị cáo sử dụng mua khẩu súng đã bị hư bị cáo vứt bỏ không còn nên không đề nghị xem xét.
Đối với người bán súng và giao súng cho C, quá trình điều tra không xác định nhân thân, lai lịch của người bán súng, người giao súng. C không nhớ rõ số tài khoản ngân hàng của người bán, cửa tiệm điện thoại mà C nhờ chuyển khoản tiền cho người bán súng, hiện nay không còn hoạt động nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L không điều tra xử lý được nên không đề nghị xem xét.
Đối với Nguyễn Hoàng P và Trần Quốc M là người trực tiếp nhìn thấy Lê Thanh C có tàng trữ, cất giấu 01 khẩu súng ngắn loại K54 là vũ khí quân dụng nhưng kể từ thời điểm nhìn thấy (từ khoảng 10 giờ đến 22 giờ ngày 03/5/2024) cho đến khi bị lực lượng Công an huyện B1 kiểm tra, phát hiện thì P và M đều không tố giác, trình báo đến Cơ quan chức năng về hành vi vi phạm của C. Do hành vi của P và M có dấu hiệu về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L ra Quyết định tách hành vi và tài liệu trong vụ án số 234 ngày 23/9/2024 chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của P và M nên không đề nghị xem xét.
Đối với hành vi của Lê Thanh C cùng các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy tại Căn hộ A, Khu dân cư L thuộc Khu phố C, thị trấn B, huyện B vào ngày 03/5/2023 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số: 47 ngày 09/5/2024 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Thanh C chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản nhận dạng vật chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án phù hợp với nội dung Cáo trạng có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng năm 2017, bị cáo Lê Thanh C sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook mua 01 khẩu súng ngắn loại K54 và 5 viên đạn là vũ khí quân dụng với giá 7.000.000 đồng, sau đó bị cáo C cất khẩu súng trên trần la phông tại nhà thuộc Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Khoảng 09 giờ ngày 03/5/2024, bị cáo C lấy khẩu súng này cất giấu vào trong người và điều khiển xe mô tô biển số 66V1-213.46 chở Trần Quốc M đến căn hộ A, Khu dân cư L thuộc Khu phố C, thị trấn B, huyện B sử dụng ma túy. Tại đây, bị cáo C lấy khẩu súng ra cất giấu trên đầu tủ gỗ phía trước Phòng 2, Lầu 2 của căn hộ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an huyện B1 đến kiểm tra, phát hiện khẩu súng trên nên tiến hành lập biên bản vụ việc và tạm giữ các tang vật có liên quan.
Từ những căn cứ trên, hành vi của bị cáo Lê Thanh C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Thanh C về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, hành vi phạm tội của bị cáo còn tiềm ẩn nguy cơ, điều kiện thuận lợi phát sinh các hành vi phạm tội khác; gây mất ổn định về trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến an ninh quốc gia. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật về việc quản lý vũ khí quân dụng, có khả năng xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác và làm mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự tại địa phương nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả xảy ra và cố ý thực hiện.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thanh C cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Thanh C phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn; có cha, mẹ ruột và người thân là người có công với Nhà nước cụ thể: Mẹ ruột là bà Nguyễn Ngọc O được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, cha ruột tên Lê Văn K tham gia dân công hỏa tuyến, bà ngoại tên Trần Thị N là liệt sĩ nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Thanh C là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh C còn có thể bị phạt tiền, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thanh C là phạt quản chế từ 01 năm đến 02 năm là không cần thiết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L tiêu hủy:
- + 01 (Một) khẩu súng ngắn kim loại màu nâu đen, loại K54, dài 19,5 cm trên thân súng bên trái có ký hiệu “No10027", nòng súng dài: 11,6 cm, đường kính trong: 7,62 mm, tay cầm kim loại màu nâu đen, không có ốp tay cầm, có băng tiếp đạn, tình trạng súng bên ngoài gỉ sét.
- + 02 (Hai) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “38 86” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) viên đạn kim loại hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “53 bxn” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) vỏ đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, cỡ đạn (7,62x25) mm và 01 (Một) đầu đạn kim loại sau khi bắn thực nghiệm.
[7]. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 có số sim 0932524274, bị cáo sử dụng mua khẩu súng đã bị hư bị cáo vứt bỏ không còn nên không đề cập xem xét.
[8]. Đối với người bán súng và giao súng cho C, quá trình điều tra không xác định nhân thân, lai lịch của người bán súng, người giao súng. C không nhớ rõ số tài khoản ngân hàng của người bán, cửa tiệm điện thoại mà C nhờ chuyển khoản tiền cho người bán súng, hiện nay không còn hoạt động nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L không điều tra xử lý được nên không đề cập.
[9]. Đối với Nguyễn Hoàng P và Trần Quốc M là người trực tiếp nhìn thấy Lê Thanh C có tàng trữ, cất giấu 01 khẩu súng ngắn loại K54 là vũ khí quân dụng nhưng kể từ thời điểm nhìn thấy (từ khoảng 10 giờ đến 22 giờ ngày 03/5/2024) cho đến khi bị lực lượng Công an huyện B1 kiểm tra, phát hiện thì P và M đều không tố giác, trình báo đến Cơ quan chức năng về hành vi vi phạm của C. Do hành vi của P và M có dấu hiệu về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L ra Quyết định tách hành vi và tài liệu trong vụ án số 234 ngày 23/9/2024 chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của P và M nên không đề cập.
[10]. Đối với hành vi của Lê Thanh C cùng các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy tại Căn hộ A, Khu dân cư L thuộc Khu phố C, thị trấn B, huyện B vào ngày 03/5/2023 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số: 47 ngày 09/5/2024 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ nên không đề cập.
[11]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Thanh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
- Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Thanh C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2024.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Thanh C 45 ngày kể từ ngày tuyên án (08/11/2024) để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L tiêu hủy:
- + 01 (Một) khẩu súng ngắn kim loại màu nâu đen, loại K54, dài 19,5 cm trên thân súng bên trái có ký hiệu “No10027", nòng súng dài: 11,6 cm, đường kính trong: 7,62 mm, tay cầm kim loại màu nâu đen, không có ốp tay cầm, có băng tiếp đạn, tình trạng súng bên ngoài gỉ sét.
- + 02 (Hai) viên đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “38 86” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) viên đạn kim loại hình trụ, màu vàng, đầu đạn kim loại, đít đạn có ký hiệu “53 bxn” cỡ đạn (7,62x25) mm.
- + 01 (Một) vỏ đạn kim loại, hình trụ, màu vàng, cỡ đạn (7,62x25) mm và 01 (Một) đầu đạn kim loại sau khi bắn thực nghiệm.
(Vật chứng trên đang được Đại Đội kho vũ khí đạn - thuộc Phòng kỹ thuật, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Thanh C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
