Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 112/2024/HS – ST.

Ngày: 30/10/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh.

2. Ông Nguyễn Ngọc Chín.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn M, sinh ngày13/4/1990; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn C, sinh năm 1970, mẹ đẻ: Khổng Thị T, sinh năm 1970, bố mẹ bị cáo hiện ở C, Sông L, Vĩnh Phúc; Vợ: Khổng Thị L, sinh năm 1994; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Hiện vợ và con của bị cáo đều ở C, Sông L, Vĩnh Phúc.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 15/11/2021, Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 44/QĐ-XPHC đối với M1 hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức phạt tiền 500.000đ. M đã nộp phạt ngày 16/11/2021.

Ngày 26/6/2024, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố V khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với M. Ngày 20/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, cho áp dụng biện pháp Bảo lĩnh đối với M. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã C, huyện S tỉnh Vĩnh Phúc. (Bị cáo có mặt)

2. Nguyễn Đăng T1, sinh ngày 20/5/1990; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1958, bố mẹ bị cáo hiện ở xã H, huyện Đ, TP Hà Nội; Vợ: Đoàn Thị Thu H, sinh năm 1995; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; vợ con bị cáo hiện ở xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Tại bản án số 144/2014/HS – ST ngày 19/9/2014, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử về tội “Huỷ hoại tài sản”, xử phạt 32 tháng tù. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù 31/8/2015 theo Giấy chứng nhận đặc xá số 460 ngày 31/8/2015 của Cơ quan THAHS, Công an thành phố H. Bị cáo đã thi hành xong phần án phí và bồi thường dân sự.

+ Ngày 20/2/2017, Công an huyện Đ, Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83 đối với T1 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác bằng hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000₫.

+ Ngày 11/7/2021, Công an huyện Đ, Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 282176 đối với T1 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác và huỷ hoại tài sản của người khác bằng hình thức phạt tiền, số tiền 6.000.000đ.

Ngày 26/6/2024, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố V khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với T1. Ngày 19/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, cho áp dụng biện pháp Bảo lĩnh đối với T1. Hiên bị cáo đang tại ngoại tại xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt)

3. Nguyễn Trọng D, sinh ngày 15/3/1977; Tên gọi khác:Không; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn V, sinh năm 1977; Mẹ đẻ: Tạ Thị P, sinh năm 1976 bố mẹ bị cáo hiện ở xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Phúc;Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 2001; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022. Vợ con bị cáo hiện ở xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 26/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V khởi tố vụ án, bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú đối với D. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã L, huyện M, Hà Nội.

(Bị cáo có mặt).

Bị hại: Anh Tô Quang H2, sinh năm 2005;

ĐKHKTT: Tổ 32, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu A, phường T, TP V, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1995;

Địa chỉ: Y, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Anh Dương Xuân T3, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối năm 2023, Nguyễn Văn M, SN 1990, HKTT: Thôn M, C, Sông L, Vĩnh Phúc có quen với một người tên là A (M không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể).Quá trình quen biết, M và A rủ nhau cùng đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền chia nhau. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, Anh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter của Anh (M không biết Biển kiểm soát) chở M ngồi sau đi theo đường Q lên thành phố V, Phú Thọ mục đích tìm ai để xe máy sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng hơn 02 giờ ngày 22/05/2024, M và A đi đến đường N gần T Phú Thọ thuộc khu C, phường T, V, Phú Thọ thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, BKS: 19AA- 084.77 của anh Tô Quang H2, SN 2005, HKTT: T5, T, V, Phú Thọ dựng ở vỉa hè trước cửa quán M3 không có người trông giữ. Thấy vậy, Anh quay xe sang đường, dừng xe gần chỗ anh H2 dựng xe, Anh bảo M trộm cắp chiếc xe trên. M đồng ý, đi một mình đến chỗ dựng xe, thấy xe không khoá cổ, khoá càng, không có ai trông coi nên M đã dắt trộm chiếc xe mô tô BKS: 19AA - 084.77 đi đến chỗ Anh đang đứng chờ. M ngồi lên xe mô tô BKS: 19AA - 084.77 còn Anh đi xe mô tô của Anh ở phía sau và dùng chân đẩy chiếc xe vừa trộm cắp được đi qua cầu V, Phú Thọ thì dừng lại ở chỗ vắng người. Anh dùng tô vít mở mặt nạ phía trước của chiếc xe vừa trộm cắp được để mở khóa điện, còn M dùng điện thoại di động số 0962.332.xxx của mình gọi đến số điện thoại 0981.618.xxx của Nguyễn Đăng T1, SN 1990, HKTT: Cổ Điển, H, Đ, Hà Nội hỏi T1 có chiếc xe vừa trộm cắp được T1 có mua không. T1 đồng ý mua bảo M mang xe xuống nhà T1 để trao đổi. Sau khi Anh mở được khoá điện và cốp xe trộm cắp được, M thấy trong cốp xe có 01 chiếc ví đã cũ không còn giá trị sử dụng, trong ví có 01 căn cước công dân, 01 đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe và bảo hiểm dân sự của xe đều mang tên Tô Quang H2. M giữ lại 01 đăng ký xe cùng căn cước công dân của anh H2 rồi vứt bỏ chiếc ví cùng giấy tờ khác, rồi cả hai đi đến nhà T1.

Khi đến nhà T1, M và A cho T1 xem xe mô tô BKS: 19AA - 084.77 cùng đăng ký xe, căn cước công dân mang tên Tô Quang H2, T1 đồng ý và mua xe với giá 10.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, Anh chia cho M 4.000.000 đồng còn Anh giữ lại 6.000.000 đồng và chở M đến khu vực khu công nghiệp B, Hà Nội để M bắt xe khách về nhà, A đi đâu làm gì, M không biết. M đã tiêu xài hết số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi mua xe, T1 kiểm tra cốp phụ gần ổ khoá điện của xe phát hiện thấy có 01 chìa khóa của xe. Đến ngày 07/06/2024, T1 đi chiếc xe trên đến hồ câu gần nhà thì gặp Nguyễn Trọng D, sinh năm 1997, HKTT: Bồng Mạc, L, M, Hà Nội, hiện ở: C, H, Đ, Hà Nội. Dự hỏi T1 có bán xe đó không, có giấy tờ không. T1 bảo D đó là "xe nhảy" (nghĩa là xe trộm cắp) nhưng có giấy tờ, D mua thì T1 bán với giá 18.000.000 đồng. Sau khi xem xe thấy rẻ và có giấy tờ, mặc dù biết là xe trộm cắp nhưng D vẫn đồng ý mua. Ngày 08/06/2024, D đến nhà T1 để mua chiếc xe trên và được T1 đưa cho căn cước cùng đăng ký xe và chìa khóa xe. D đi xe về nhà và chuyển 18.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng mang tên Nguyễn Thị H1 là vợ Dự, SN 2001, HKTT: H, Đ, Hà Nội đến tài khoản ngân hàng của T1 để trả tiền mua xe. Nhận được tiền bán xe, T1 chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của vợ là Đoàn Thị Thu H, SN 1995, HKTT: Cổ Điển, H, Đ, Hà Nội và bảo H đó là số tiền do T1 lao động mà có. H đã sử dụng hết số tiền đó để chi tiêu trong gia đình, còn lại số tiền 8.000.000 đồng Thanh đã tiêu sài cá nhân hết.

Khi mang xe về nhà, D không nói với vợ là xe Dự mua của T1 là xe do trộm cắp mà có, vợ của T1 đi thử nhưng không thích chiếc xe này nên đến chiều cùng ngày 08/6/2024 D liên lạc với Nguyễn Tiến T2, SN 1995, HKTT: Y, L, M, Hà Nội là anh em họ của D chuyên mua bán xe máy cũ, D bảo T2 có chiếc xe mô tô HONDA VISION là xe mua lại có đủ giấy tờ muốn bán nhưng D không nói là xe trộm cắp mà có. T2 đồng ý mua, hẹn gặp D tại Đình B, L, M, Hà Nội để xem xe. Tại chỗ hẹn, T2 xem xe cùng giấy tờ xong, do xe biển 19 Phú Thọ nên T2 đã liên hệ, chụp ảnh xe cùng giấy tờ gửi cho Dương Xuân T3, sinh năm: 1982, HKTT: khu D, V, V, Phú Thọ là chủ cửa hàng mua bán xe máy Trường X, V, Phú Thọ hỏi T3 mua xe đó không?. Trường X1 và đồng ý mua xe với giá 30.500.000 đồng. Thấy vậy, T2 bảo D mua xe với giá 26.700.000 đồng. D đồng ý và đưa cho T2 xe cùng đăng ký và chìa khóa xe còn căn cước công dân của anh Tô Thanh H3 thì Dự giữ, T2 trả cho D số tiền 26.700.000đ, sau đó D đi về nhà. Số tiền bán xe được, D đưa cho chị H vợ của D 18.000.000 đồng và bảo đó là số tiền do Dự lao động mà có, chị H đã sử dụng hết số tiền đó để chi tiêu trong gia đình. Còn số tiền 8.700.000 đồng D đã tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi mua xe đến ngày 09/6/2024, T2 bán lại cho Dương Xuân T3 với giá 30.500.000 đồng, T3 mang xe về cửa hàng đăng bán lên mạng xã hội Facebook của cửa hàng kèm theo hình ảnh xe. Ngày 17/06/2024, anh Tô Quang H2 lên mạng thấy chiếc xe cửa hàng Trường X đăng bán giống chiếc xe của mình bị trộm cắp nên đã đến cửa hàng gặp T3 để xem xe. Sau khi xem, H2 nhận ra là chiếc xe của mình nên nói lại với T3, T3 đã liên lạc với T2 và thống nhất trả lại chiếc xe cho T2.

Ngày 18/06/2024 anh Tô Quang H2 đến cơ quan Công an thành phố V trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã triệu tập Nguyễn Tiến T2 làm việc. T2 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe BKS 19AA- 084.77 cùng đăng ký và 01 chìa khóa xe cho cơ quan điều tra. Cùng ngày, cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Đăng T1 và Nguyễn Trọng D. Ngày 19/6/2024 cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn M đến làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trọng D và Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngày 19/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 19AA- 084.77. Tại kết luận định giá tài sản số 449/KL- HĐĐGTS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận: “Giá 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám đen, sản xuất năm 2023 biển kiểm soát 19AA- 084.77(số máy: JK03E8272201, số khung: RLHJK0351PY128538) xe đã qua sử dụng có giá: 32.000.000 đồng”.

Nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên bị can Nguyễn Văn M đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài. Đối với Nguyễn Trọng D và Nguyễn Đăng T1 do hám lợi nên đã mua xe do người khác trộm cắp với giá rẻ để bán lại kiếm lời.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị can đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do mình thực hiện. Nguyễn Văn M và Nguyễn Trọng D phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngày 01/10/2024, M đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000đ là tiền bán xe cho T1 mà có nên Nguyễn Văn M được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nguyễn Trọng D được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và Nguyễn Đăng T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với người đàn ông tên A mà M khai cùng đi trộm cắp xe máy với M và T1 khai là người đi cùng M đến nhà T1 để bán xe máy, M và T1 đều không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của A, không lưu trữ dữ liệu hình ảnh nào của A và camera thu thập được tại hiện trường chỉ thu giữ được hình ảnh của M đang trộm cắp tài sản, không có hình ảnh của Anh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành nhận dạng. M khai chỉ liên lạc với A qua 02 số điện thoại 0968.512.xxx và 0896587397, ngoài ra không liên lạc bằng hình thức nào khác, mỗi lần M liên lạc với Anh thì M đều xoá các cuộc gọi đi, đến nhằm tránh bị phát hiện. Đã tiến hành tra cứu chủ thuê bao số điện thoại 0968.512.xxx và 0896587397. Kết quả, chủ thuê bao số 0968.512.781 là bà Cao Thị L1, SN 1947, HKTT: A, Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương và chủ thuê bao số 0896.587.397 là bà Nguyễn Thị H4, SN 1965, HKTT: Thôn S, xã N, V, Vĩnh Phúc, bà L1 và bà H4 đều không đăng ký và sử dụng số điện thoại nêu trên. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định đối tượng tên là A.

Đối với Nguyễn Tiến T2, Dương Xuân T3 là người mua lạichiếc xe máy BKS: 19AA- 084.77 của D. Khi mua chiếc xe, T2 và T3 đều không biết xe do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với Đoàn Thị Thu H là vợ của T1 được T1 đưa số tiền 10.000.000 đồng và Nguyễn Thị H1 là vợ của D được D đưa cho số tiền 18.000.000 đồng do bán xe mà có, chị Đoàn Thị Thu H và chị Nguyễn Thị H1 đều không biết số tiền này do bán xe trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ trong vụ án và xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã cũ, số IMEI1: 866724060714316, kèm 01 sim trong máy số 0962.332.950 là điện thoại cùng sim của M dùng để liên lạc hàng ngày và trao đổi rủ nhau đi trộm cắp và bán xe cho Nguyễn Đăng T1.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ, màn hình nứt vỡ số IMEI1: 358544105148808, kèm 01 sim trong máy số 0981.618.854 là điện thoại di động cùng sim của T1 dùng để liên lạc hàng ngày và trao đổi mua xe với M.

Hiện các vật chứng, tài sản trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án thành phố Việt Trì.

Đối với01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xám đen, đã qua sử dụng, BKS: 19AA- 084.77, số máy: JK03E8272201, số khung: RLHJK0351PY128538, 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân và 01 chìa khoá nhựa màu đen là của anh Tô Quang H2. Ngày 05/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định trả lại những tài sản trên cho H2.

Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS-VTngày 05 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trọng D tôi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại đơn đề nghị ngày 22/10/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến T2 giữ nguyên quan điểm tại cơ quan điều tra, đối với số tiền 26.700.00₫ anh T2 không yêu cầu Nguyễn Trọng D phải bồi thường và đề nghị tự thoả thuận về trách nhiệm dân sự.

Tại đơn đề nghị ngày 23/10/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Xuân T3 giữ nguyên quan điểm tại cơ quan điều tra, đối với số tiền 30.500.000₫ anh T3 mua xe của Nguyễn Tiến T2, anh T3 đề nghị tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết về vấn đề trách nhiệm dân sự.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/10/2024, bị hại Tô Quang H2 xác nhận đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo M phải bồi thường thêm. Bị hại xin Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trọng D. Đại diện VKSND thành phố Việt Trì trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trọng D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức hình phạt từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho UBND xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T1 mức hình phạt 9 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đăng T1 cho UBND xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D mức hình phạt từ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ đến 15 (mười lăm ) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ (từ 20/6/2024 đến ngày 26/6/2024) quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành tháng 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ đến 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Trọng Dự T4 từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện M, TP Hà Nội nhận được quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Trọng D.

Giao bị cáo Nguyễn Trọng D cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Trọng D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 866724060714316 của Nguyễn Văn M.

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ màn hình nứt vỡ số IMEI1: 358544105148808 của Nguyễn Đăng T1.

Tịch thu tiêu hủy:02 sim số 0962332950, 0981618854.

Xác nhận anh Tô Quang H2 đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xám đen, đã qua sử dụng, BKS: 19AA- 084.77, số máy: JK03E8272201, số khung: RLHJK0351PY128538, 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân và 01 chìa khoá nhựa màu đen là của anh Tô Quang H2 vào ngày 05/7/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố V.

Buộc bị cáo Nguyễn Đăng M2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền10.00.000₫ (Mười triệu đồng), xác nhận bị cáo đã nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004799 ngày 01/10/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

Buộc bị cáo Nguyễn Đăng T1 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 8.000.000₫ (Tám triệu đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 8.000.000đ (Tám triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000585 ngày 21/10/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng D phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 8.700.000₫ (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 8.700.000₫ (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004857 ngày 28/10/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tô Quang H2 đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với số tiền 30.500.000 đồng anh Dương Xuân T3 mua xe của Nguyễn Tiến T2, anh T3 và anh T2 tự thống nhất giải quyết với nhau không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với số tiền 26.700.000 đồng T2 mua xe của D, T2 không có yêu cầu đề nghị gì nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét tuyên các bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Văn M đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là xe máy để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 02 giờ ngày 22/5/2024, tại đường N gần Toyota P thuộc khu C, phường T, V, Phú Thọ, lợi dung sơ hở của chủ xe trong quản lý tài sản khi để xe trên vỉa hè, không khoá cổ, khoá càng nên Nguyễn Văn M đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xám đen, BKS 19AA- 084.77 của anh Tô Quang H2, giá trị tài sản trộm cắp là 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng). Cùng ngày, M bán chiếc xe trộm cắp trên cho Nguyễn Đăng T1 với giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Ngày 08/6/2024, T1 bán lại chiếc xe trộm cắp trên cho Nguyễn Trọng D với giá là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng). Mặc dù biết rõ là xe do trộm cắp mà có nhưng Nguyễn Đăng T1 và Nguyễn Trọng D vẫnđồng ý mua nhằm bán lại với giá cao hơn để kiếm lời. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho bị hại.

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích kiếm tiền để tiêu xài cá nhân các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trọng D đã phạm vào tội “Tiệu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ Luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn M có nhân thân xấu ngày 15/11/2021 bị Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính đối với M về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bằng hình thức phạt tiền 500.000đ, M đã nộp phạt ngày 16/11/2021. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tôi lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngày 01/10/2024, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) là tiền thu lợi bất chính do bán chiếc xe đã trộm cắp cho Nguyễn Đăng T1; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhe trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Nguyễn Đăng T1 có nhân thân xấu. bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử tại bản án số 144/2014/HS – ST ngày 19/9/2014 về tội “Huỷ hoại tài sản”, xử phạt 32 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù 31/8/2015 theo Giấy chứng nhận đặc xá số 460 ngày 31/8/2015 của Cơ quan THAHS, Công an thành phố H. Bị cáo đã thi hành xong phần án phí và bồi thường dân sự; Ngày 20/2/2017, Công an huyện Đ, Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83 đối với T1 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác bằng hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000đ; Ngày 11/7/2021, Công an huyện Đ, Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 282176 đối với T1 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác và huỷ hoại tài sản của người khác bằng hình thức phạt tiền, số tiền 6.000.000đ. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.Trước khi xét xử bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền thu lợi bất chính từ việc bán chiếc xe máy trộm cắp được cho Nguyễn Trọng D, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Nguyễn trọng D có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.Trước khi xét xử bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 8.700.000₫ (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính từ việc bán chiếc xe máy trộm cắp được cho anh Nguyễn Tiến T2; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhe trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tất các các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, nên HĐXX xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của đại diện VKSND TP Việt Trì cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Đăng T1, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên HĐXX xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Trọng D, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, bị cáo cũng nhận thức được hành vi của mình nên áp dụng Điều 36 BLHS tuyên bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Do bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo nhưng cần buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Mức hình phạt đại diện VKSND TP Việt Trì đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp, được hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Quá xác minh tại cơ quan điều tra các bị cáo hiện không có việc làm,không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 866724060714316 của Nguyễn Văn M dùng để trao đổi rủ nhau đi trôm cắp và bán xe cho Nguyễn Đăng T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ màn hình nứt vỡ số IMEI1: 358544105148808 của Nguyễn Đăng T1 đây là điện thoại bị cáo dùng để trao đổi mua bán chiếc xe đã trộm cắp với Nguyễn Văn M được xác định là công cụ, phương tiện phạm tôi nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 02 sim số 0962332950, 0981618854 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) Nguyễn Văn M có được do bán xe đã trộm cắp cho Nguyễn Đăng T1, số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) T1 có được do bán xe cho Nguyễn Trọng D và số tiền 8.700.000 (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) Dự có được do bán xe cho T2 đây là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc các bịcáo phải nộp vào ngân sách nhà nước.

[7] Đối với người đàn ông tên A mà M khai cùng đi trộm cắp xe máy với M, T1 khai là người đi cùng M đến nhà T1 để bán xe máy, M và T1 đều không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của A, không lưu trữ dữ liệu hình ảnh nào của A và camera thu thập được tại hiện trường chỉ thu giữ được hình ảnh của M đang trộm cắp tài sản, không có hình ảnh của Anh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành nhận dạng. M khai chỉ liên lạc với A qua 02 số điện thoại 0968.512.xxx và 0896587397, ngoài ra không liên lạc bằng hình thức nào khác, mỗi lần M liên lạc với Anh thì M đều xoá các cuộc gọi đi, đến nhằm tránh bị phát hiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu chủ thuê bao số điện thoại 0968.512.xxx và 0896587397. Kết quả, chủ thuê bao số 0968.512.781 là bà Cao Thị L1, SN 1947, HKTT: A, Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương và chủ thuê bao số 0896.587.397 là bà Nguyễn Thị H4, SN 1965, HKTT: Thôn S, xã N, V, Vĩnh Phúc, bà L1 và bà H4 đều không đăng ký và sử dụng số điện thoại nêu trên. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định đối tượng tên là A.

Đối với Nguyễn Tiến T2, Dương Xuân T3 là người mua lạichiếc xe máy BKS: 19AA- 084.77 của D. Khi mua chiếc xe, T2 và T3 đều không biết xe do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với Đoàn Thị Thu H là vợ của T1 được T1 đưa số tiền 10.000.000 đồng và Nguyễn Thị H1 là vợ của D được D đưa cho số tiền 18.000.000 đồng do bán xe mà có, chị Đoàn Thị Thu H và chị Nguyễn Thị H1 đều không biết số tiền này do bán xe trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[8]Về trách nhiệm dân sự: Anh Tô Quang H2 đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với số tiền 30.500.000 đồng anh Dương Xuân T3 mua xe của Nguyễn Tiến T2, anh T3 và anh T2 tự thống nhất giải quyết với nhau không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với số tiền 26.700.000 đồng T2 mua xe của D, T2 không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hình phạt chính:
    1. Áp dụng dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

      Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho UBND xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    2. Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

      Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Đăng T1 cho UBND xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

      Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ”.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D từ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ (từ 20/6/2024 đến ngày 26/6/2024) quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ.

      Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Trọng Dự T4 từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện M, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Trọng D.

      Giao bị cáo Nguyễn Trọng D cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Trọng D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

      Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

      Trong thời gian cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

  2. Hình phạt bổ sung:

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trong D1.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

    - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

    • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 866724060714316 của Nguyễn Văn M.
    • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ màn hình nứt vỡ số IMEI1: 358544105148808 của Nguyễn Đăng T1.

    - Tịch thu tiêu hủy: 02 sim số 0962332950, 0981618854.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).

    Xác nhận anh Tô Quang H2 đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xám đen, đã qua sử dụng, BKS: 19AA- 084.77, số máy: JK03E8272201, số khung: RLHJK0351PY128538, 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân và 01 chìa khoá nhựa màu đen là của anh Tô Quang H2 vào ngày 05/7/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố V.

    (Theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 05/7/2024tại Công an T).

    Buộc bị cáo Nguyễn Đăng M2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 10.00.000đ (Mười triệu đồng), xác nhận bị cáo đã nộp 10.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0004799 ngày 01/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

    Buộc bị cáo Nguyễn Đăng T1 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 8.000.000đ. Xác nhận bị cáo đã nộp 8.000.000đ (Tám triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000585 ngày 21/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

    Buộc bị cáo Nguyễn Trọng D phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 8.700.000đ. Xác nhận bị cáo đã nộp 8.700.000đ (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004857 ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Trọng D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - Công an thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THA DSTP Việt Trì;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, NVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS – ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 112/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Mạnh và ĐP trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger