|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày 30/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân và bà Lý Thuý Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như N - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử công khai trực tiếp sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Trường G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 20/6/1982; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Triệu Văn L, đã chết; Họ tên mẹ: Tô Thị T, sinh năm 1942; A, chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Trần Thị N1, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Âu Văn N2 (đã chết): Bà Vương Thị T1, sinh năm 1961.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000;
Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/02/2024, Triệu Trường G, trú tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô biển số 22B1-010.83 đi từ nhà tại tổ dân phố A, phường Đ (theo hướng cầu A đi Quốc lộ B) để đến cây xăng tại khu công nghiệp L mua xăng. Khi đến đoạn đường dẫn cầu A (đường Đ) thuộc tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T quan sát thấy cách khoảng 08 mét về phía trước có xe mô tô biển số 22B2-456.93 do Nguyễn Văn Q (trú tại thôn P, xã C, huyện S) điều khiển đi cùng chiều với G ở phần đường bên phải (theo chiều đi), cách mép đường phải khoảng 1,6m; G điều khiển xe đi nhanh về phía trước, cách sau xe của Q khoảng 03m đến 04m. Lúc này, Q quan sát thấy phía trước cùng chiều cách khoảng 10m có ông Âu Văn N2, trú tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố T đang đi bộ phía trước (cách mép đường phải theo chiều đi khoảng 1,2m), Q điều khiển xe từ từ giảm tốc độ, chếch sang phía bên trái để tránh ông N2. Do G điều khiển xe mô tô không giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô do Q điều khiển đi phía trước nên tay lái bên phải xe của G đã va chạm với cổ tay trái của Q (đang điều khiển xe), phần đầu xe của G va chạm với yếm bên trái xe mô tô của Q nên xe mô tô do Q điều khiển đã bất ngờ bị mất lái, đâm vào ông N2 làm ông N2 ngã ra đường; xe mô tô của Q lao về phía trước, đổ sang phần đường bên phải, xe mô tô do G điều khiển bị đổ sang trái ở vị trí giữa đường, Q và G bị ngã xuống đường. Hậu quả ông N2 bị thương nặng và chết trên đường đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, hai phương tiện hư hỏng, G và Q bị xây xát nhẹ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là đường dẫn cầu A (ĐT186) thuộc tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; mặt đường bê tông, nhẵn, phẳng, thẳng, đường rộng 11m, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng, nét đứt, đo từ tâm vạch sơn đến mép đường phải (theo hướng cầu A đi Quốc lộ B) là 5,5m. Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng cầu A đi Quốc lộ B, lấy mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn. Vị trí số 1 là vùng vết cày trượt 1 có kích thước (203x55x0,02) cm ngắt quãng kéo dài trên mặt đường tại chiều đường bên phải theo hướng khám nghiệm, kết thúc cạnh bên phải xe mô tô biển số 22B2-456.93. Vị trí số 2 là vùng máu loang bám dính trên mặt đường có kích thước (70x40)cm, tâm vùng máu cách mép đường chuẩn 3,8m, cách tâm đầu vị trí số 1 là 4,7m. Vị trí số 3 là vùng máu bám dính trên mặt đường, kích thước (60x30)cm, tâm vùng cách mép đường chuẩn 3,85m, cách tâm vị trí số 2 là 2,45m. Vị trí số 4 là vùng máu trên mặt đường, kích thước (30x5)cm, tâm vùng cách mép đường chuẩn 1,25m, cách tâm vị trí số 3 là 2,70m. Vị trí số 5 là chiếc mũ vải màu xanh cách mép đường chuẩn 0,35m. Vị trí số 6 là 01 chiếc dép nhựa chân bên trái màu vàng nhạt cách mép đường chuẩn 6,55m. Vị trí số 7 là vùng vết cày trượt 2 ngắt quãng kéo dài trên mặt đường, có chiều hướng cong vòng cung, chếch chéo từ trái sang phải theo hướng khám nghiệm kích thước (1840x60x0,1)cm, tâm điểm đầu vùng vết cày cách mép đường chuẩn 4,50m, cách tâm vị trí số 6 là 7,15m; tâm điểm kết thúc cách mép đường chuẩn 1,70m. Vị trí số 8 là xe mô tô biển số 22B2-456.93 được dựng bằng chân trống nghiêng sang bên trái, đầu xe quay chếch chéo sang bên trái, đuôi xe hướng sang lề đường phải theo hướng khám nghiệm, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 1,90m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1,60m. Vị trí số 9 là chiếc dép nhựa màu vàng nhạt cách mép đường chuẩn 2,20m. Vị trí số 10 là vùng các mảnh vỏ kim loại màu đen bám dính các mảnh gương, kính thủy tinh, kích thước (30x10)cm, tâm vùng vị trí số 10 cách mép đường chuẩn 04m, cách tâm vùng vị trí số 9 là 4,25m. Vị trí số 11 là chiếc khẩu trang bằng vải, tâm cách mép đường chuẩn 3,30m. Vị trí số 12 là 01 chiếc mũ vải cách mép đường chuẩn 2,45m... Quá trình khám nghiệm không phát hiện xe mô tô biển số: 22B1-101.83 của Triệu Trường G tại hiện trường do ông Long Văn L1 (trú tại tổ dân phố A, phường Đ) điều khiển xe chở G rời khởi hiện trường (mục đích đưa G đến cơ sở y tế cấp cứu).
Khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông xe mô tô biển số 22B2-456.93 ghi nhận: Đầu tay nắm bên trái có vùng mài xước, bong tróc cao su chiều hướng từ phải sang trái; ốp nhựa tại vị trí phía chân gương bên trái có vùng nứt vỡ; mặt ngoài cụm đèn tín hiệu phía trước bên phải có vùng mài xước nhựa bề mặt bám dính bụi đất; mặt ngoài bên trái đầu chắn bùn phía trước có vùng mài xước nhựa bong tróc sơn; giá để chân phía trước bên phải bị cong vênh, xô lệch chiều hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên; đầu giá để chân phía trước bên trái bị rách vùng cao su để lộ lõi kim loại, đầu lõi kim loại có vùng mài xước bám dính tạp chất màu trắng...
Khám nghiệm xe mô tô biển số 22B1-101.83 ghi nhận: đầu tay nắm bên phải có vùng mài xước rách cao su để lộ lõi nhựa phía trong; đầu tay phanh bên phải có vùng mài xước kim loại, bong tróc sơn; mặt ngoài cụm đèn tín hiệu phía trước bên phải có vùng mài xước nhựa, bề mặt bám dính bụi đất; cụm đèn chiếu sáng bị bung bật khớp nối, bề mặt có vùng mài xước nhựa; mặt ngoài thanh giảm xóc bên phải có vùng mài xước kim loại chiều hướng từ trước về sau; giá để chân phía trước bên phải bị cong vênh, xô lệch, tì ép vào bưởng máy; đầu giá để chân phía trước bên trái bị rách, có vùng rách cao su để lộ lõi kim loại...
Bản kết luận giám định số: 279/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T về giám định pháp y tử thi Âu Văn N2, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Âu Văn N2 là Mất máu cấp do chấn thương ngực kín, dập, rách nhu mô phổi và rách tiểu nhĩ phải.
Bản kết luận giám định số: 292/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T đối với giám định dấu vết máu của ông Âu Văn N2, kết luận: Dấu vết màu nâu, đỏ thu tại hiện trường tại vị trí số 02, 03, 04 (ký hiệu lần lượt là A1, A2, A3) là máu người, thuộc nhóm máu B. Máu của tử thi Âu Văn N2 (ký hiệu là M) thuộc nhóm máu B.
Bản kết luận giám định số 293/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T đối với mẫu máu của ông Âu Văn N2, kết luận: Mẫu gửi giám định có cồn (E). Nồng độ cồn trong mẫu gửi giám định là 22,951mg/100ml (hai mươi hai phẩy chín trăm năm mươi mốt miligam trên một trăm mililit).
Bản kết luận giám định số: 295/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T đối với giám định nồng độ cồn trong máu, kết luận: Mẫu máu của Triệu Trường G gửi giám định không có cồn (Ethanol).
Bản kết luận giám định số: 296/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T đối với giám định chất ma túy, kết luận: Mẫu máu của Triệu Trường G gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy thường gặp (Morphine; Heroine; Methamphetamine; MDMA; Delta - 9 – tetrahydrocanabinol; Ketamine).
Bản kết luận giám định tư pháp số 47/KL-GĐTP ngày 05/4/2024 của Trung tâm Đ1, kết luận: Không đủ căn cứ để xác định vận tốc của xe mô tô biển số 22B2-456.93 và xe mô tô 22B1-010.83 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.
Bản kết luận giám định dấu vết cơ học số 2851/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của V - Bộ C, kết luận: Không đủ cơ sở để kết luận vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 22B1-010.83 và xe mô tô biển số 22B2-456.93.
Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Chi phí khắc phục sửa chữa xe mô tô biển số 22B1-010.83 là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Chi phí khắc phục sửa chữa xe mô tô biển số 22B2-456.93 là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 108/CT-VKSTP ngày 16 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Triệu Trường G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Triệu Trường G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Triệu Trường G từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Triệu Trường G cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Triệu Trường G 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Supper Dream, màu sơn nâu, biển số 22B1-010.83; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 046994 do Phòng C1 - Công an tỉnh T cấp cho xe biển số đăng ký 22B1-010.83; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Triệu Trường G;
- Trả lại anh Nguyễn Văn Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám đen, biển số 22B2-456.93; 01 Bản sao Chứng nhận đăng kí xe mô tô số 105157 do Phòng C1 - Công an tỉnh T cho xe biển số đăng ký 22B2-456.93; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Q; 01 mũ vải, mặt ngoài mũ màu đen, có thêu chữ “DIOR”, mặt phía trong mũ màu tím nhạt, có thêu chữ “DIOR”; 01 khẩu trang bằng vải, mặt ngoài kẻ caro có thêu chữ “VIP”;
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh vỡ của chân gương xe mô tô, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 mảnh vỡ của gáo gương xe mô tô, bằng nhựa, màu đen, kích thước (5x4)cm, có dính các mảnh gương vỡ; 01 mảnh vỡ của chân gương xe mô tô, bằng kim loại, kích thước (4x3)cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Triệu Trường G đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn Q đã hỗ trợ số tiền 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Bà Vương Thị T1, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền, không có đề nghị gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Nguyễn Văn Q không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự và từ chối giám định thương tích.
Ngoài ra, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Trường G tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 08/02/2024, tại đường dẫn cầu A (đường Đ) thuộc tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Triệu Trường G trú tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T điều khiển xe mô tô biển số 22B1-010.83 tham gia giao thông đường bộ do không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đi liền trước (vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và Điều 11 Thông tư 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) dẫn đến xe mô tô do G điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển số 22B2-456.93 do Nguyễn Văn Q trú tại thôn P, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển đi ở phần đường bên phải phía trước cùng chiều với G dẫn đến xe mô tô do Q điều khiển đã đâm vào ông Âu Văn N2 trú tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố T đang đi bộ ở phần đường bên phải phía trước theo chiều đi của G, Q. Hậu quả ông N2 chết do bị chấn thương ngực kín, dập, rách nhu mô phối và rách tiểu nhĩ phải.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Triệu Trường G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; Đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi khi đi bộ không đi sát mép đường bên phải. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự trong khi lượng hình.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Triệu Trường G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định khi tham gia giao thông, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khoẻ và tính mạng của người khác. Do vậy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này không còn lần phạm tội nào khác nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Xét thấy bị cáo Triệu Trường G là lao động tự do, hành vi phạm tội với lỗi vô ý nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, phạm tội với lỗi vô ý nên cần trả lại cho bị cáo Triệu Trường G 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Supper Dream, màu sơn nâu, biển số 22B1-010.83; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 046994 do Phòng C1 - Công an tỉnh T cấp cho xe biển số đăng ký 22B1-010.83; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Triệu Trường G; Trả lại cho anh Nguyễn Văn Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám đen, biển số 22B2-456.93; 01 Bản sao Chứng nhận đăng kí xe mô tô số 105157 do Phòng C1 - Công an tỉnh T cho xe biển số đăng ký 22B2-456.93; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Q; 01 mũ vải, mặt ngoài mũ màu đen, có thêu chữ “DIOR”, mặt phía trong mũ màu tím nhạt, có thêu chữ “DIOR”; 01 khẩu trang bằng vải, mặt ngoài kẻ caro có thêu chữ “VIP”;
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh vỡ của chân gương xe mô tô, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 mảnh vỡ của gáo gương xe mô tô, bằng nhựa, màu đen, kích thước (5x4)cm, có dính các mảnh gương vỡ; 01 mảnh vỡ của chân gương xe mô tô, bằng kim loại, kích thước (4x3)cm là tang vật của vụ án không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Triệu Trường G đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q đã hỗ trợ số tiền 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Bà Vương Thị T1, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền, không có đề nghị gì khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự và từ chối giám định thương tích nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Đối với Nguyễn Văn Q, điều khiển xe mô tô biển số 22B2-456.93 đã chấp hành đúng quy định khi tham gia giao thông đường bộ đi bên phải đường, chú ý quan sát, khi thấy ông Âu Văn N2 đi bộ cùng chiều phía trước nên từ từ giảm tốc độ, điều khiển xe hơi chếch sang trái để tránh ông N2 thì bị Triệu Trường G điều khiển xe mô tô đi phía sau bất ngờ va chạm với xe của Q gây ra vụ tai nạn giao thông trên. Kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn Q không có lỗi nên hành vi không cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý.
[9] Đối với ông Âu Văn N2 là người đi bộ khi tham gia giao thông không đi sát mép phải đường, vi phạm vào khoản 1, Điều 32 Luật giao thông đường bộ nhưng ông N2 đã chết nên không xem xét xử lý.
[10] Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Triệu Trường G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: Bị cáo Triệu Trường G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2024).
Giao bị cáo Triệu Trường G cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Triệu Trường G thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 của Luật thi hành án hình sự.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
- Trả lại cho bị cáo: Triệu Trường G 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Supper Dream, màu sơn nâu, biển số 22B1-010.83; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 046994 do Phòng C1 - Công an tỉnh T cấp cho xe biển số đăng ký 22B1-010.83; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Triệu Trường G;
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám đen, biển số 22B2-456.93; 01 Bản sao Chứng nhận đăng kí xe mô tô số 105157 do Phòng C1 - Công an tỉnh T cho xe biển số đăng ký 22B2-456.93; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Q; 01 mũ vải, mặt ngoài mũ màu đen, có thêu chữ “DIOR”, mặt phía trong mũ màu tím nhạt, có thêu chữ “DIOR”; 01 khẩu trang bằng vải, mặt ngoài kẻ caro có thêu chữ “VIP”;
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh vỡ của chân gương xe mô tô, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 mảnh vỡ của gáo gương xe mô tô, bằng nhựa, màu đen, kích thước (5x4)cm, có dính các mảnh gương vỡ; 01 mảnh vỡ của chân gương xe mô tô, bằng kim loại, kích thước (4x3)cm là tang vật của vụ án không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 26/9/2024).
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
- Bị cáo Triệu Trường G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Triệu Trường G, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Âu Văn N2 là bà Vương Thị T1 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Lý Thuý Hà Nhân Lý Thị |
Phạm Ngọc Hà |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Hà |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Trường Giang (Vi phạm về tham gia giao thông đường bộ)
