|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/DS-ST
Ngày 28-9-2024.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Trần Văn Thanh
- 2/ Bà Nguyễn Hoa Lài
- - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 111A/QĐST-DS ngày 17/9/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K
- Địa chỉ: số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1996. Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng thương mại cổ phần K. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 367/QĐ-NHKL ngày 03/02/2023). Vắng mặt
- - Bị đơn: Ông Phan Thanh V
- Bà Huỳnh Thị D
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Ngân hàng TMCP K do ông Lê Hồng Q đại diện trình bày. Năm 2022 Ngân hàng TMCP K – Phòng G có cấp tín dụng cho ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D với hạn mức 350.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 022/22/HĐTD/0902-2480 ngày 20/01/2022 với thời hạn vay 12 tháng, lãi suất cho vay 11,1% áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh theo kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay. Phương thức trả: trả lãi 06 tháng/lần, gốc trả cuối kỳ. Mục đích vay để bổ sung vốn lưu động. Để đảm bảo cho khoản vay ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D có ký hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 109, tờ bản đồ 16, diện tích 11.320m², loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 291769, số vào sổ CH01158 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 11/12/2019 theo hợp đồng thế chấp số 752/19/HĐTC-BĐS/0902-2480 ký ngày 23/12/2019 được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Quá trình thực hiện ông Phan Thanh V1 và bà Huỳnh Thị D vi phạm hợp đồng đã ký, đến hạn thanh toán Ngân hàng TMCP K đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông V, bà D không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán và khoản vay đã được chuyển quá hạn kể từ ngày 20/01/2023. Tính đến ngày 28/9/2024 ông V, bà D còn nợ Ngân hàng TMCP K tiền vốn gốc 350.000.000 đồng, lãi trong hạn là 21.110.849 đồng, lãi quá hạn là 142.881.986 và tiền phạt chậm trả là 3.568.601 đồng. Tổng cộng vốn lãi theo hợp đồng còn nợ là 517.561.437 đồng.
Ngoài ra ngày 21/8/2020 ông Phan Thanh V có ký hợp đồng mở thẻ tín dụng Visa theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế K1 số 478/20/TC/0902-2480 với hạn mức 30.000.000 đồng, lãi suất 22% thay đổi theo mức lãi suất cho vay của ngân hàng theo từng thời kỳ, phí phạt vượt hạn mức 0,075% ngày. Tính đến ngày 28/9/2024 ông V còn nợ vốn gốc 28.848.335 đồng, lãi phát sinh 25.580.123 đồng, phí phạt chậm trả 18.428.278 đồng, phạt vượt hạn mức 6.280.049 đồng
Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền vay vốn, lãi của các hợp đồng nêu trên tính đến ngày 28/9/2024 là 596.698.222 và phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kể từ ngày 29/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản vay. Trường hợp ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D không trả hoặc trả không đầy đủ số nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số CR 291769, số vào sổ CH01158 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 11/12/2019 theo hợp đồng thế chấp số 752/19/HĐTC-BĐS/0902-2480 ký ngày 23/12/2019 để thu hồi nợ
Bị đơn ông Phan Thanh V và bà Huỳnh Thị D trình bày: Vào tháng 01/2022 vợ chồng tôi có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần K để vay số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, khi vay chúng tôi có thế chấp cho ngân hàng phần đất thuộc quyền sử dụng của chúng tôi để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Sau khi được giải ngân chúng tôi có trả được một phần tiền lãi cho phía ngân hàng nhưng do khoảng 02 năm nay vợ chồng tôi không tạo ra được thu nhập dẫn đến số nợ quá hạn. Nay phía ngân hàng khởi kiện yêu cầu tôi phải trả toàn bộ số nợ và tiền lãi phát sinh theo như hợp đồng đã ký thì chúng tôi thống nhất và có yêu cầu được trả dần, trong 06 tháng tới chúng tôi sẽ trả toàn bộ phần tiền lãi phát sinh cho ngân hàng, sau đó chúng tôi yêu cầu mỗi năm trả khoảng 50.000.000 tiền nợ gốc cho đến khi hết số nợ.
Tại phiên toà ông Lê Hồng Q đại diện cho Ngân hàng TMCP K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D vẫn vắng mặt nên không phát biểu yêu cầu nào mới.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phát biểu:
- - Về tố tụng: Việc thu thập chứng cứ từ khi thụ lý vụ án của Thẩm phán, mở và điều khiển phiên toà của Hội đồng xét xử tại phiên toà là tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K về việc yêu cầu ông Phan Thanh V, bà Huỳnh thị D phải trả số tiền vốn vay, lãi và phí phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký, tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng cho đến khi thanh toán hết số nợ. Trường hợp không trả hoặc trả không đầy đủ số nợ thì xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số 752/19/HĐTC-BĐS/0902-2480 ký ngày 23/12/2019 để thu hồi nợ. Án phí, chi phí tố tụng buộc ông V, bà D phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D hiện tại có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
[3]. Về xét xử vắng mặt. Ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.
Về nội dung tranh chấp:
[1] Đối với số tiền vốn gốc. Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D thanh toán tiếp số tiền vốn 350.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 022/22/HĐTD/0902-2480 ngày 20/01/2022 và 28.848.335 đồng theo hợp đồng số số 478/20/TC/0902-2480 ngày 21/8/2020. Ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D thừa nhận số tiền còn nợ 350.000.000 theo hợp đồng vay vốn, đối với số tiền nợ thẻ tín dụng ông V, bà D chưa có ý kiến. Toà xét thấy: Ngày 21/08/2020 có ký hợp đồng mở thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP K. Theo đó Ngân hàng TMCP K phát hành cho ông V thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng. Căn cứ giấy xác nhận nhận thẻ pin ngày 03/9/2020 do Ngân hàng cung cấp thì đủ cơ sở để Toà xác định ông Phan Thanh V có mở và sử dụng thẻ do Ngân hàng TMCP K phát hành là có thật. Đối chiếu với thoả thuận của hai bên trong Hợp đồng tín dụng đủ cơ sở xác định ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, Toà chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K, buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D có trách nhiệm thanh toán số tiền vốn vay còn nợ 350.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 022/22/HĐTD/0902-2480 ngày 20/01/2022 và 28.848.335 đồng theo hợp đồng số 478/20/TC/0902-2480 ngày 21/8/2020 cho Ngân hàng TMCP K.
[2]. Đối với số tiền lãi (trong hạn, lãi quá hạn), phí. Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D trả số tiền lãi và các phí phát sinh theo hợp đồng. Xét thấy: khi vay ông V, bà D có thoả thuận trả lãi suất theo hợp đồng, lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, và trả hàng tháng. Đối chiếu thoả thuận của hai bên tại các Hợp đồng tín dụng đủ cơ sở xác định ông V, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi vay. Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Toà chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K, buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền lãi, phí tính đến ngày 28/9/2024 là 167.561.437 đồng theo hợp đồng tín dụng số 022/22/HĐTD/0902-2480 ngày 20/01/2022 và 50.288.450 đồng theo hợp đồng số 478/20/TC/0902-2480 ngày 21/8/2020.
[3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Xét thấy Ngày 23/9/2019 ông V, bà D có ký với Ngân hàng TMCP K hợp đồng thế chấp số 752/19/HĐTC-BĐS/0902-2480 để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 109, tờ bản đồ 16, diện tích 11.320m², loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 291769, số vào sổ CH01158 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 11/12/2019 do ông Phan Thanh V đứng tên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Nay ông V, bà D không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nên Ngân hàng TMCP K yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí kèm theo. Buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D có trách nhiệm phải chịu án phí theo mức án phí có giá ngạch trên số tiền bị buộc trả.
[5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP K được chấp nhận nên buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng phát sinh theo quy định.
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng: Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiển của Ngân hàng K.
1.1 Buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D có trách nhiệm thanh toán tiếp cho Ngân hàng TMCP K số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số: 022/22/HĐTD/0902-2480 ngày 20/01/2022 còn nợ tính đến ngày 28/9/2024 là 517.561.437 đồng. Trong số tiền này có 350.000.000 đồng tiền vốn gốc, 167.561.437 đồng là tiền lãi. Ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D phải tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 29/9/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 022/22/HĐTD/0902-2480 ngày 20/01/2022 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ.
Trường hợp ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ đối với số tiền còn nợ thì N hành TMCP Kiên Long được xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 109, tờ bản đồ 16, diện tích 11.320m², loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 291769, số vào sổ CH01158 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 11/12/2019 do ông Phan Thanh V đứng tên theo hợp đồng thế chấp số 752/19/HĐTC-BĐS/0902-2480 ngày 23/9/2019 để thu hồi nợ.
1.2 Buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D có trách nhiệm thanh toán tiếp cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ thẻ tín dụng theo hợp đồng số 478/20/TC/0902-2480 ngày 21/8/2020 tính đến ngày 28/9/2024 là 79.136.785 đồng. Trong đó nợ gốc là 28.848.335 đồng, nợ lãi và phí là 50.288.450 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 29/9/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.
2. Về án phí:
- Buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D phải chịu 27.868.000 (Hai mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.400.000 ( Mười triệu bốn trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004183 ngày 06/11/2023 và 1.768.000 (Một triệu bảy trăm sáu mươi tám nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004504 ngày 22/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phan Thanh V, bà Huỳnh Thị D phải chịu 9.500.000 (Chín triệu năm trăm nghìn) đồng. Số tiền này Ngân hàng TMCP K đã nộp tạm ứng trước nên được nhận lại khi ông V, bà D nộp.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |
Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 112/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
