Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 112/2024/DS-ST

Ngày: 26 tháng 09 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Nam

Ông Trịnh Hồng Hải

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trúc Lâm- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 06 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 08 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 200/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (OCB); Địa chỉ: số D & D đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Hoàng Khánh C - Chức vụ: Trưởng nhóm THN và bà Phan Lê Thị Thu T1 – chức vụ: Chuyên viên chính THN; Địa chỉ liên hệ: Số C đường Q, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024 và Giấy ủy quyền số 3113/2024/UQ-OCB ngày 05/9/2024). (bà T1 có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T2 - sinh năm 1962 và bà Lê Thị H - sinh năm: 1967; Địa chỉ: Số G đường N, tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Phan Lê Thị Thu T1 trình bày:

Ngân hàng TMCP P (sau đây gọi tắt là O) với ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H đã ký Hợp đồng tín dụng số 0165/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 17/11/2020. Theo Hợp đồng tín dụng này OCB đồng ý cho Ông Nguyễn Đình T2 và Bà Lê Thị H vay số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn); Thời hạn cho vay: 120 tháng; Mục đích sử dụng vốn: vay tiêu dùng; Lãi suất vay: 10,5%/năm trong 03 tháng đầu, lãi suất có điều chỉnh theo khế ước nhận nợ số 0165.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 18/11/2020; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Bên vay trả nợ gốc cho OCB theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 10 của tháng theo phương thức tăng dần bậc thang, mỗi năm tăng 10%. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 10/12/2020. Bên vay trả lãi vay cho OCB theo định kỳ 01 tháng/lần tiền lãi vào ngày 10 của tháng theo dư nợ thực tế. Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/12/2020.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 269; tờ bản đồ số 64; tọa lạc tại địa chỉ: Tổ B, Phường H, Quận L, Thành Phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào số cấp GCN số CTs 184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Đ cấp ngày 18/04/2019, cập nhật thay đồi chủ sở hữu lần cuối ngày 30/05/2019. Tài sản trên đã được Ông Nguyễn Đình T2 và Bà Lê Thị H thế chấp để vay vốn ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số 0165/2022/BĐ ngày 17/11/2020 và đã được Văn Phòng C1, địa chỉ I Hải Phòng, phường T, quận H, Thành Phố Đà Nẵng chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Thực hiện Hợp đồng OCB đã thực hiện giải ngân 01 lần bằng hình thức bên vay nhận tiền mặt theo khế ước nhận nợ số 0165.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 18/11/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, Đến ngày 23/02/2021, ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do gặp khó khăn về tại chính và được OCB chấp nhận cho trả gối đầu và vẫn tạo điều kiện duy trì khoản vay. Tuy nhiên, đến ngày 26/04/2024 ông T2 bà H tiếp tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nên OCB đã chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn đồng thời chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn từ ngày 10/06/2024. Tính đến nay ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H đã trả cho O tổng số tiền 126.721.040 đồng, trong đó: tiền gốc đã trả là 126.721.040 đồng và tiền lãi đã trả là 198.406.366 đồng, số tiền còn nợ là 390.016.185 đồng. Khoản vay này Ngân hàng chưa bán nợ cho Công ty Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H phải thanh toán toàn bộ nợ vay cho O với tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/09/2024 là: 390.016.185 đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 373.278.960 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.278.664 đồng; lãi quá hạn là 286.138 và phạt chậm trả lãi là 172.424 đồng.

Ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H tiếp tục chịu các khoản lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho OCB.

Trường hợp ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, OCB có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 269, tờ bản đồ số 64, tại địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào sổ cấp GCN: CTs184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 18/4/2019; cập nhật chuyển nhượng ngày 30/5/2019 thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H để thu hồi nợ cho OCB.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H vẫn phải tiếp tục trả nợ cho OCB cho đến khi các khoản nợ được tất toán.

Bị đơn ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T2 và bà H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 12 tháng 08 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 269, tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào sổ cấp GCN: CTs184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 18/4/2019; cập nhật chuyển nhượng ngày 30/5/2019 thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị Hoài . Hiện trạng lô đất không có thay đổi gì so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:

- Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Đương sự đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên hòa giải, không có ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án là không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị HĐXX căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/11/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H phải trả cho OCB tổng số tiền tính đến ngày 26/09/2024 là 390.016.185 đồng (Ba trăm chín mươi triệu, không trăm mười sáu nghìn, một trăm lăm đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 373.278.960 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.278.664 đồng; lãi quá hạn là 286.138 và phạt chậm trả lãi là 172.424 đồng.

Trong trường hợp ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 269, tờ bản đồ số 64, tại địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào sổ cấp GCN: CTs184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 18/4/2019; cập nhật chuyển nhượng ngày 30/5/2019 thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H sẽ được xử lý theo Điều 299 Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (sau đây gọi tắt là OCB) về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời bị đơn là ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H có địa chỉ cư trú tại phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Đình T2, bà Lê Thị H phải thanh toán số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/09/2024 là 390.016.185 đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 373.278.960 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.278.664 đồng; lãi quá hạn là 286.138 và phạt chậm trả lãi là 172.424 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 17/11/2020, O và ông Nguyễn Đình T2, bà Lê Thị H đã ký Hợp đồng tín dụng số 0165/2020/HĐTD-OCB-CN. Theo đó, O đồng ý cho bị đơn vay số tiền là 500.000.000 đồng; thời hạn cho vay: 120 tháng; lãi suất vay: 10,5%/năm trong 03 tháng đầu, lãi suất có điều chỉnh theo khế ước nhận nợ số 0165.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 18/11/2020; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Bên vay trả nợ gốc cho OCB theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 10 của tháng theo phương thức tăng dần bậc thang, mỗi năm tăng 10%. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 10/12/2020. Bên vay trả lãi vay cho OCB theo định kỳ 01 tháng/lần tiền lãi vào ngày 10 của tháng theo dư nợ thực tế. Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/12/2020. OCB đã giải ngân toàn bộ cho bị đơn theo khế ước nhận nợ trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 23/02/2021, ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do gặp khó khăn, trả gối đầu nhưng vẫn được OCB tạo điều kiện tiếp tục duy trì khoản vay. Tuy nhiên, đến ngày 26/04/2024 ông T2 bà H tiếp tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên OCB đã chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận tại điểm g Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 0165/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 17/11/2020 đồng thời chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn từ ngày 10/06/2024.

HĐXX thấy Hợp đồng tín dụng được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái đạo đức xã hội. Thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ là phù hợp với quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, là người có lỗi trong việc chậm thanh toán tiền nợ. Do vậy, yêu cầu của O là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận buộc ông T2 và bà H phải thanh toán cho OCB tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm - ngày 26/9/2024 là 390.016.185 đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 373.278.960 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.278.664 đồng; lãi quá hạn là 286.138 và phạt chậm trả lãi là 172.424 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn là ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H không thanh toán được khoản nợ cho OCB, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bị đơn dùng tài sản thuộc sở hữu của mình là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 269, tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào sổ cấp GCN: CTs184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 18/4/2019; cập nhật chuyển nhượng ngày 30/5/2019 thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H để thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số 0165/2022/BĐ ngày 17/11/2020 đã được công chứng và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận L, thành phố Đà Nẵng ngày 17/11/2020 nên phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết.

Trong trường hợp ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì tài sản thế chấp nêu trên sẽ được xử lý theo Điều 299 của Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.500.809 đồng. Hoàn trả cho OCB số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bị đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

- Điều 296, Điều 299, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự;

- Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P (O) đối với ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị Hoài .
  2. Buộc ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP P (O) số tiền tính đến ngày 26/09/2024 là 390.016.185 đồng (Ba trăm chín mươi triệu, không trăm mười sáu nghìn, một trăm lăm đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 373.278.960 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.278.664 đồng; lãi quá hạn là 286.138 và phạt chậm trả lãi là 172.424 đồng.
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
  4. Khi ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H thanh toán xong các khoản nợ trên thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại cho ông T2 và bà H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào sổ cấp GCN: CTs184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 18/4/2019; cập nhật chuyển nhượng ngày 30/5/2019 thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị Hoài . Trong trường hợp ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 269, tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 866443, số vào sổ cấp GCN: CTs184743 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 18/4/2019; cập nhật chuyển nhượng ngày 30/5/2019 thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H sẽ được xử lý theo Điều 299 Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.
  5. Án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.500.809 đồng (Mười chín triệu, năm trăm nghìn tám trăm linh chín đồng).

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP P (O) số tiền 9.763.347 đồng (Chín triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm bốn bảy đồng) tạm ứng án phí DS-ST đã nộp theo biên lai thu số 0001323 ngày 24 tháng 06 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

  6. Chi phí tố tụng: Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bị đơn phải chịu. Số tiền này OCB đã chi, nên ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị H có nghĩa vụ hoàn lại cho OCB số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
  7. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 112/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với ông Nguyễn Đình T và bà Lê Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger