|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 25/9/2024.
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Quy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Ông Lâm Thái Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST–HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp BT, xã VPT, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt – có đơn xin vắng).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp NTĐ, xã NTL, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt – không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2018, chị Ng và anh K có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NLT, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 10/10/2017. Thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng anh chị thường xuyên cự cải, hôn nhân không hạnh phúc và chị Ng, anh K đã ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ng yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về quan hệ con chung: Chị Ng xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh K có 01 người con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/3/2018. Hiện nay cháu H đang sống cùng anh K nên chị Ng đồng ý cho anh K nuôi con và chị Ng không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị Ng không yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn K không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án dù Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của anh K về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình với chị Nguyễn Thị N.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
- Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/3/2018 cho anh Nguyễn Văn K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng chị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về quan hệ tài sản: Chị Ng không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn K có nơi đăng ký thường trú tại ấpNTĐ, xã NTL, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Ng. Bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh K.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2018, chị Ng và anh K có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NLT, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 10/10/2017 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Ng và anh K là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị Ng xác định vợ chồng chị thường xuyên cải nhau, hôn nhân không hạnh phúc và chị Ng, anh K đã ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị Ng nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ng yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị Ng và anh K lúc sống chung thường xuyên cải nhau và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
[5] Về quan hệ con chung: Chị Ng xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh K có có 01 người con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/3/2018. Hiện nay cháu H đang sống cùng anh K nên chị Ng đồng ý cho anh K nuôi con và chị Ng xin không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu H đang sống cùng anh K và cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở, học ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/3/2018 cho anh Nguyễn Văn K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ng, anh K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, được quyền thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
[6] Về tài sản: Chị Nguyễn Thị N, anh K không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
- Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/3/2018 cho anh Nguyễn Văn K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con không xem xét giải quyết. Chị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, được quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.
- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn K không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải nộp số tiền là 300.000 đồng nhưng chị Ng đã dự nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007630 ngày 02/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Quách Văn Quy |
4
Bản án số 112/2024/HNGĐ - ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 112/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K
