Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN NAM

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HSST

Ngày 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông BÙI HỒNG THANH.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông NGUYỄN THANH PHƯƠNG.
  2. Ông DƯƠNG HỒNG VINH.

- Thư ký phiên tòa: Ông ĐỖ THỊ THÚY HOÀI – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN BẮC – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: PHẠM QUỐC T (Tên gọi khác: Không), sinh năm 2000 tại Bình Thuận.

Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông;

Tiền án: 02.

  • + Ngày 16/10/2018, Phạm Quốc T bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 58/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/10/2019.
  • + Ngày 24/6/2022, Phạm Quốc T bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 85/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2023, đến nay chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1961 và bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1961.

Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất là bị cáo.

Vợ con: Chưa có.

Bị cáo bị bắt ngày 28/6/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện H cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: NGUYỄN VĂN T3 (Tên gọi khác: Ú), sinh năm 1995 tại Bình Thuận.

Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Sửa xe.

Tiền án, tiền sự: Không;

Con ông: Nguyễn Văn T4, sinh năm 1960 và bà: Trần Thị S, sinh năm: 1961.

Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất là bị cáo.

Vợ con: Chưa có.

Bị cáo bị bắt ngày 28/6/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện H cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Trung H, sinh năm 2003. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ngày 27/6/2024, Nguyễn Trung H, sinh năm 2003 (trú thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Phạm Quốc T nói H đến nhà T chở T đến tiệm cầm đồ ở N, xã H để chuộc lại điện thoại. Sau đó, H chở T đến nhà của Nguyễn Văn T3 chơi. Khi đến trước cổng nhà T3 thì T nói H đi bộ vào nhà T3 trước và cho Trương mượn xe đi công việc (Trương không nói cho H biết việc Trương mượn xe để đi mua ma tuý) rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu D (thuộc xã T, thành phố P) để mua ma tuý. Tại đây, T gặp một người thanh niên (hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 100.000 đồng thì người thanh niên này đồng ý và nói Trương đi mua card điện thoại V thì Trương đi mua 02 thẻ card điện thoại Viettel mỗi cái mệnh giá 50.000 đồng rồi quay lại đưa cho người thanh niên và người thanh niên đưa lại cho T 01 gói ma tuý. Sau đó, T cầm gói ma tuý trên đi về nhà T3. Sau khi về đến nhà T3, T rủ T3 và H cùng sử dụng ma túy thì được T3 và H đồng ý. Lúc này, T3 lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy từ trong phòng ngủ của T3 mà T3 đã chuẩn bị trước đó rồi mang ra phía sau nhà của T3 và đưa cho T. Sau đó, Trương lấy từ trong túi quần ra 01 gói nylon bên trong có chứa ma túy (ma tuý đá) rồi đổ hết vào nỏ thủy tinh để sử dụng, tiếp đến Trương tự đốt ma tuý lên sử dụng rồi lần lượt đến T3 và H sử dụng mỗi người sử dụng được 02 đến 03 hơi. Khi sử dụng đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày thì T, T3 và H nghỉ, lúc này trong nỏ thủy tinh vẫn còn lại một ít chất rắn màu nâu thì T3 đã tháo bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra mang vào tủ quần áo ở trong phòng ngủ của T3 để cất giấu. Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện H phối hợp với Công an xã H tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ các tang vật, đồng thời đưa các đối tượng về trụ sở Công an để làm việc, qua làm việc T, T3 và H thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình.

Tang vật thu giữ gồm:

  • 01 (một) đoạn ống thủy tinh không màu, dài khoảng 14cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng có chứa chất rắn màu nâu nghi là ma túy đá;
  • 01 (một) chai nhựa có nắp đậy (trên nắp đậy được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn một ống hút nhựa);
  • 01 (một) bật lửa vỏ nhựa.

Tại bản kết luận giám định số 758/KL-KTHS, ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận chất:

  • + 01(một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong có chứa chất rắn màu nâu (ký hiệu Mẫu M) gửi giám định là Methamphetamine có khối lượng 0,0059 gam.

* Về xử lý vật chứng: 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 758 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) chai nhựa có nắp đậy (trên nắp đậy có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn một ống hút nhựa); 01 (một) bật lửa vỏ nhựa được thu giữ khi kiểm tra. Tất cả tang vật này Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam sẽ chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án huyện Hàm Thuận Nam để quản lý, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.

Đối với Nguyễn Trung H quá trình điều tra xác định H không có góp tiền để T mua ma túy, không biết T mua ma túy ở đâu, mua khi nào và H cũng không cung cấp đồ vật gì cho T và T3. Do đó, không đồng phạm với các bị can T và T3 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Riêng đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” của H, Cơ quan điều tra đã lập hồ sơ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Tại bản cáo trạng số: 111/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b, điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Quốc T từ 09 đến 10 năm tù.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 07 đến 08 năm tù.

Áp dụng: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01(một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 758 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) chai nhựa có nắp đậy (trên nắp đậy có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn một ống hút nhựa); 01 (một) bật lửa vỏ nhựa được thu giữ khi kiểm tra là những tang vật cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng.

(Các vật chứng trên hiện đang do Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam).

Tại phiên tòa các bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỦ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện H, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về cấu thành tội phạm:

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tại bản cáo trạng, vật chứng đã thu giữ cũng như các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc do Cơ quan điều tra – Công an huyện H lập hồi 23 giờ 10 phút ngày 27/6/2024 tại thôn P, xã H, huyện H; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Cơ quan điều tra – Công an huyện H; Kết luận giám định số: 758/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B. Như vậy đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 27/6/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn T3 thuộc thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Phạm Quốc T đã có hành vi cung cấp chất ma túy, bị cáo Nguyễn Văn T3 cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm cho nhiều người (03 người) sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang lúc 23 giờ 10 phút cùng ngày. Hành vi của các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phạm Quốc T có 02 tiền án nhưng chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có đồng phạm trong đó bị cáo Phạm Quốc T là người trực tiếp khởi xướng, còn bị cáo Nguyễn Văn T3 là người thực hành tích cực.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng; ma túy là nguyên nhân làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành như vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3 đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Quyết định hình phạt:

Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng:

01(một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 758 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) chai nhựa có nắp đậy (trên nắp đậy có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn một ống hút nhựa); 01 (một) bật lửa vỏ nhựa là những tang vật cấm tàng trữ lưu hàng và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

(Các vật chứng trên hiện đang do Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam).

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.1. Căn cứ: Điểm b, điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.

1.2. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 758 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) chai nhựa có nắp đậy (trên nắp đậy có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn một ống hút nhựa); 01 (một) bật lửa vỏ nhựa.

(Các vật chứng trên hiện đang do Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Quốc T và Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/9/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND Hàm Thuận Nam;
  • - CA huyện Hàm Thuận Nam;
  • - THADS Hàm Thuận Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ – án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Hồng Thanh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Bùi Hồng T5

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 112/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger